Home » giang-day
Đảng Lao động Việt Nam với lao động trí óc (1-5-1951)
00:09 |
Đảng Lao
động Việt Nam với lao động trí óc (1-5-1951)
C.B.
Báo Nhân
dân, số 6, ngày 1-5-1951.
Tuyên ngôn của Đảng nói:
“Đảng Lao động Việt Nam sẽ gồm những
công nhân, nông dân và lao động trí óc yêu nước nhất, hǎng hái nhất, cách mạng
nhất”. Và: “Lao động trí óc cần được khuyến khích giúp đỡ, phát triển tài
nǎng”.
Hai câu ấy đủ đập tan những lời bịa đặt
đê hèn của bọn đế quốc và lũ phản động. Chúng thường vu rằng: những đảng theo
chủ nghĩa Mác – Lênin xem khinh trí thức.
Thật ra, chính bọn chúng lợi dụng trí
thức, nô dịch trí thức và áp bức trí thức. Những người đại trí thức, thí dụ như
ông Quyri (Curie) bị Chính phủ Mỹ “tẩy chay”, bị Chính phủ Pháp cất chức. Đó là
chứng cớ rõ ràng.
Chỉ có giai cấp công nhân mới thật yêu
chuộng trí thức. Những người lao động trí óc được đặc biệt trọng đãi ở Liên Xô
và ở các nước dân chủ mới. Đó cũng là chứng cớ rõ ràng.
Lao động trí óc là ai? Là thầy giáo,
thầy thuốc, kỹ sư, những nhà khoa học, vǎn nghệ, những người làm bàn giấy,
v.v..
Nhiệm vụ của giai cấp công nhân và
nhân dân Việt Nam hiện nay là kháng chiến và kiến quốc.
Để hoàn thành nhiệm vụ ấy, ngoài việc
quân sự ắt phải phát triển kinh tế. Cho nên cần có những người chuyên môn thông
thạo về công nghệ và nông nghiệp.
Cần phát triển giao thông vận tải, cho
nên cần có những kỹ sư thông thạo về việc đắp đường, bắc cầu.
Cần giữ gìn sức khoẻ của dân, cho nên
cần có thầy thuốc.
Cần đào
tạo cán bộ cho mọi ngành hoạt động, cho nên cần có thầy giáo, v.v..
Do đó, lao động trí óc có nhiệm vụ rất
quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, trong công cuộc hoàn thành
dân chủ mới để tiến đến chủ nghĩa xã hội.
Ngày nay, chúng ta phải làm hai việc
nhằm một mục đích:
Một là đào tạo những trí thức mới
trong công nông.
Hai là cải tạo những trí thức hiện có.
Dùng hai chữ “cải tạo” thì không khỏi
mếch lòng những bạn trí thức quá giàu lòng tự ái. Nhưng chúng ta phải thật thà
nhận rằng: về chuyên môn và trong mức nào đó, thì anh chị em trí thức khá. Song
vì ngày trước, anh chị em đã bị giáo dục trong đường lối và khuôn khổ thực dân
và phong kiến, cho nên tư tưởng và lề lối làm việc của anh chị em không khỏi ảnh
hưởng của thực dân và phong kiến. Điều đó không phải lỗi tại anh chị em. Dù
sao, thoát khỏi cái xiềng xích của ảnh hưởng ấy thì tài nǎng của trí thức ta sẽ
tiến bộ vượt bực, sẽ rất ích lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân, vì nó sẽ hợp với
nhiệm vụ mới, tinh thần mới, xã hội mới của nước ta.
Muốn đạt
mục đích ấy, trí thức ta cần cải tạo tư tưởng, sửa đổi lề lối làm việc.
Đào tạo trí thức mới.
Cải tạo trí thức cũ.
Công nông trí thức hoá.
Trí thức công nông hoá.
Nghĩa là công nông cần học tập vǎn hoá
để nâng cao trình độ tri thức của mình, trí thức cần gần gũi công nông và học tập
tinh thần, nghị lực, sáng kiến và kinh nghiệm của công nông.
Đó là nhiệm vụ chung và cần kíp, mà
chúng ta phải cùng nhau cố gắng làm cho kỳ được.
Đồng chí Trường Chinh - người thực hành và phát triển xuất sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
08:30 |
Đồng chí Trường Chinh là người chiến sĩ cộng sản ưu tú, nhà lãnh đạo xuất sắc của cách mạng Việt Nam. Quá trình hoạt động cách mạng, Ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp rèn luyện, trở thành cộng sự gần gũi nhất và là người thực hành, phát triển xuất sắc tư tưởng cách mạng của Người.
| Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc với Tổng bí thư Đảng Lao động Việt Nam Trường Chinh tại Hà Nội, tháng 01-1955. (Ảnh tư liệu) |
Đồng chí Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu, sinh ngày 09-02-1907 ở làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định trong một gia đình trí thức yêu nước. Truyền thống của quê hương và gia đình đã hun đúc lòng yêu nước, lý tưởng cách mạng của Ông. Sau khi tìm hiểu “Đường Kách mệnh” và các tác phẩm khác của Nguyễn Ái Quốc, Đồng chí được giác ngộ tham gia Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên năm 1927, tiến trình vận động thành lập Đảng và là một trong những đảng viên lớp đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuối năm 1930, Đồng chí bị thực dân Pháp bắt và đày đi Sơn La. Dù trong ngục tù, hay khi được trả tự do, Đồng chí đều tích cực truyền bá cương lĩnh, đường lối của Đảng, góp phần vào cuộc vận động dân chủ do Đảng ta lãnh đạo từ năm 1936 đến 1939. Năm 1940, trước sự khủng bố ác liệt của thực dân Pháp, nhiều đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng bị bắt và giết hại, hệ thống tổ chức của Đảng tổn thất nặng; Đồng chí đã khéo léo vượt qua sự truy lùng gắt gao của kẻ thù, nỗ lực tổ chức lại bộ máy của Đảng và đón lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng.
Đồng chí Trường Chinh được giao và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trực tiếp chuẩn bị Dự thảo Nghị quyết Hội nghị Trung ương VIII (5-1941). Tại Hội nghị này, Đồng chí được bầu là Tổng Bí thư của Đảng. Hội nghị đánh dấu sự chuyến biến cực kỳ quan trọng về chỉ đạo chiến lược của Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Có thể khẳng định, Nghị quyết Trung ương VIII chính là sự thực hành sáng tạo tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Hồ Chí Minh - một vấn đề chiến lược còn mới đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lúc bấy giờ. Điểm kế thừa, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc của đồng chí Trường Chinh thể hiện rất rõ ở quan điểm tập hợp lực lượng cách mạng. Để đoàn kết được lực lượng cách mạng toàn dân tộc, Hội nghị Trung ương VIII đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước và thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) và các đoàn thể “cứu quốc”, lấy liên minh công nông làm nòng cốt, tranh thủ đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng và cá nhân yêu nước, phản đế, không kể họ thuộc tầng lớp, giai cấp nào, như Nghị quyết khẳng định: “Pháp - Nhật ngày nay không phải chỉ là kẻ thù của công nông mà là kẻ thù của cả dân tộc Đông Dương. Trong lúc này khẩu hiệu của Đảng ta là trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp - Nhật”1; “Muốn làm tròn nhiệm vụ ấy, trước hết tập trung cho được lực lượng cách mạng toàn cõi Đông Dương, không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản bản xứ, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả ra giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc, đánh tan giặc Pháp – Nhật xâm chiếm nước ta”2.
Cùng với vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc, Nghị quyết còn chỉ đạo rất đúng về chuẩn bị lực lượng, nắm và tận dụng thời cơ cách mạng để sẵn sàng Tổng khởi nghĩa. Đồng chí Trường Chinh từng nhấn mạnh: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”3. Đặc biệt, Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” thể hiện một nhãn quan tuyệt vời trong nghệ thuật nắm bắt thời cơ, như đồng chí Lê Đức Thọ khẳng định: “Có thể nói, không có chỉ thị này ta sẽ bỏ lỡ thời cơ khi Nhật - Pháp bắn nhau và không chuẩn bị sẵn sàng để tiến tới Tổng khởi nghĩa khi Nhật bị thất bại”4. Đánh giá về sự kiện này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại: “Từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1944, Bác Hồ đi vắng, có thời gian khá dài, không có tin tức, trên cương vị Tổng Bí thư, trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, anh Trường Chinh đã đảm nhiệm trọng trách lãnh đạo phong trào và đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Nổi bật nhất là anh dự báo việc Nhật Pháp bắn nhau và sớm thay mặt Thường vụ Trung ương thảo ra Chỉ thị: “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”5.
Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (02-1951), Tổng Bí Thư Trường Chinh đã có nhiều đóng góp vào phát triển lý luận về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và con đường tiến lên của cách mạng Việt Nam. Có thể nói, đây là một văn kiện lịch sử, góp phần bổ sung và phát triển lý luận của Hồ Chí Minh và Đảng ta về cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến hành trong điều kiện một nước thuộc địa nửa phong kiến trong thời đại mới. Tổng kết kinh nghiệm cách mạng Việt Nam, Ông cho rằng, hai nhiệm vụ phản đế và phản phong phải khăng khít không thể tách rời nhau, nhưng cũng không thể tiến hành song song nhất loạt ngang nhau. Khăng khít với nhau là vấn đề chiến lược, không tiến hành song song nhất loạt ngang nhau là vấn đề sách lược và phải đặt nhiệm vụ phản đế lên hàng đầu; nhiệm vụ phản phong phải phục vụ phản đế. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là tiền đề của cách mạng xã hội chủ nghĩa; cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự phát triển tất yếu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Hai quá trình khác nhau nhưng kế tiếp nhau không đứt đoạn, có nhiệm vụ của giai đoạn sau đã bắt đầu từ giai đoạn trước và có nhiệm vụ của giai đoạn trước, sang giai đoạn sau mới có thể hoàn thành. “Tóm lại, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, trừ diệt bọn phản quốc, xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, kiến thiết một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường, phát triển chế độ dân chủ, nhân dân Việt Nam do con đường dân chủ nhân dân tiến tới chủ nghĩa xã hội.”6. Nếu như trong Chính cương vắn tắt của Đảng mới chỉ đề cập “để đi tới xã hội cộng sản”, mà chưa chỉ rõ là đi tới bằng cách nào thì đến Đại hội II, trong Bàn về cách mạng Việt Nam, đồng chí Trường Chinh căn cứ tình hình thực tiễn của cách mạng đã khẳng định: con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam là tiến lên chủ nghĩa xã hội, không có con đường nào khác. Muốn tiến tới chủ nghĩa xã hội, phải qua nhiều giai đoạn, chứ không phải một giai đoạn. Những giai đoạn đó, không dứt mạch mà liên quan mật thiết với nhau. Quan niệm giản đơn muốn “vượt bỏ giai đoạn” cũng như khuynh hướng “từ từ từng bước” đều sai: “Con đường từ nay đến chủ nghĩa xã hội là một con đường khó khăn và dài. Không thể giạng chân ra mà bước một bước khổng lồ để đến ngay chủ nghĩa xã hội. Phải bước nhiều bước, chia thành nhiều độ mà đi”7. Trong cả quá trình đó mầm mống của chủ nghĩa xã hội được xây dựng, củng cố và phát triển dần dần. Nhưng chủ nghĩa tư bản dân tộc cũng sẽ phát triển. Sau cùng, cuộc đấu tranh giữa hai nhân tố xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa nhất định sẽ kết thúc bằng sự thắng lợi của nhân tố xã hội chủ nghĩa và sẽ đưa nước Việt Nam đến chủ nghĩa xã hội, bước đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa.
| Đồng chí Trường Chinh đọc Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ VI của Đảng, tháng 12-1986. (Ảnh tư liệu) |
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, cũng là lúc xuất hiện tư tưởng chủ quan, tự mãn. Cùng với nhận thức sai lầm, mang tư duy, cung cách quản lý thời chiến sang áp dụng quản lý xã hội, quản lý kinh tế trong thời bình càng làm cho đất nước lâm vào trì trệ, khó khăn. Trước thực trạng đó, một lần nữa, tư duy sáng tạo, đổi mới của Ông lại in dấu ấn sâu đậm vào cuộc chuyển hướng chiến lược vĩ đại của đất nước. Trường Chinh cho rằng, chúng ta đã phạm sai lầm nghiêm trọng về chỉ đạo chiến lược chứ không phải chỉ về mặt lãnh đạo kinh tế. Vì vậy, năm 1986, Đồng chí là một trong những người tích cực đề xuất với Đảng khởi xướng đường lối đổi mới, nhằm vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Theo quan điểm của Ông, để đổi mới phải: “dựa trên những bài học được đúc kết từ những thắng lợi đã đạt được và những khuyết điểm, sai lầm mà chúng ta đã phạm trong 11 năm qua…”8. Đó là các bài học: “sức mạnh của một nước, của cách mạng chính là ở nhân dân”, “tôn trọng quy luật khách quan, vận dụng đúng đắn, hành động theo quy luật chính là cách đi lên chủ nghĩa xã hội đúng nhất và nhanh nhất, không có con đường nào khác”, “phải giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng”. Trong báo cáo trước Đại hội VI của Đảng, Tổng Bí thư Trường Chinh đã nêu rõ phương châm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, v.v. Từ sự đổi mới tư duy có tính chất đột phá của Đại hội VI mà Trường Chinh là người đi đầu cho sự đổi mới đó, đến Đại hội VII, lần đầu tiên Đảng ta nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh và khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”.
Cách mạng Việt Nam là quá trình không ngừng sáng tạo, đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nỗ lực của toàn dân. Ánh hào quang của ngày hôm qua là tiền đề quan trọng, nhưng cũng có thể có mặt trở thành yếu tố cản đường của ngày hôm nay nếu như không đổi mới hoặc đổi mới không phù hợp, không theo kịp với sự phát triển của thực tiễn. Vì thế, người Cộng sản, người cách mạng chân chính chỉ trân trọng những thành tựu đã đạt được trong quá khứ là chưa đủ, mà cần phải dũng cảm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong tiến trình đổi mới, trong đó bao hàm cả sự dám gạt bỏ những gì của hôm qua vốn là ưu điểm nhưng hôm nay không còn thích hợp nữa. Đó cũng là một sự giải phóng, giải phóng tư duy nhận thức khỏi những lối mòn, cái cũ kỹ, lạc hậu. Tổng Bí thư Trường Chinh chính là hiện thân của phẩm chất ấy và một trong số người như thế - xứng đáng là học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
TS. NGUYỄN XUÂN TRUNG, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Nguồn: http://tapchiqptd.vn
1 - ĐCSVN - Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 112.
2 - Sđd, tr. 112-113.
3 - Sđd, tr. 113.
4 - Cách mạng Tháng Tám - Thời cơ nghìn năm có một, Nxb QĐND, H. 2009, tr. 28.
5 - “Trường Chinh - ngôi sao sáng trên bầu trời Cách mạng Tháng Tám”, (TTXVN/Vietnam+) 13-8-2015, 12:39 GMT+7.
6 - ĐCSVN - Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 76.
7 - Sđd, Tập 7, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 91.
8 - Trường Chinh - Nắm vững ba bài học lớn để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược, Nxb ST, H. 1986, tr. 10
Quan điểm của Đảng ta về xây dựng thế trận an ninh nhân dân
08:27 |Gắn bó mật thiết với nhân dân là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Trong lãnh đạo đường lối bảo vệ an ninh, trật tự, nguyên tắc này được cụ thể hóa thành định hướng chiến lược: xây dựng “thế trận an ninh nhân dân”. Để thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương về xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, lực lượng công an cần tập trung thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp.
Gắn bó mật thiết với nhân dân là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng, là kết quả của sự kế thừa, phát triển, vận dụng sáng tạo truyền thống dân tộc, học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Hơn 86 năm qua, Đảng ta kiên định thực hiện nguyên tắc lãnh đạo thực hiện thắng lợi đường lối chính trị xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, dựa vào dân, tôn trọng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Trong lãnh đạo đường lối bảo vệ an ninh, trật tự, nguyên tắc gắn bó mật thiết với nhân dân được Đảng cụ thể hóa thành định hướng chiến lược: xây dựng “thế trận an ninh nhân dân”, trở thành nghệ thuật huy động, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của toàn dân nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25-10-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, là: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Tư tưởng phát huy sức mạnh tổng hợp, xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc đã được thể hiện trong đường lối đấu tranh chống phản cách mạng của Đảng ta trước đây, bắt đầu từ phong trào “ba không” trong kháng chiến chống thực dân Pháp, phong trào “bảo mật phòng gian” kết hợp với phong trào “bảo vệ trị an” trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ và phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” sau này. Tuy nhiên, đến Đại hội VII, thuật ngữ “thế trận an ninh nhân dân” mới chính thức được đề cập, Đảng nêu rõ: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn dân và Nhà nước. Không ngừng nâng cao giác ngộ và cảnh giác chính trị của nhân dân, xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân trong điều kiện mới, với lực lượng nòng cốt và tinh nhuệ”.
Tại Đại hội VIII, lần đầu tiên thuật ngữ “nền an ninh nhân dân” chính thức được đề cập, gắn chặt với thế trận an ninh nhân dân. Đảng nhấn mạnh: “Kết hợp thành chiến lược thống nhất giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ an ninh, trật tự; kết hợp củng cố nền quốc phòng toàn dân với xây dựng thế trận an ninh nhân dân. Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, tính tích cực cách mạng của khối đoàn kết toàn dân, phối hợp lực lượng quốc phòng và an ninh trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự”.
Quan điểm của Đảng về xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được khẳng định tại Đại hội IX, X, XI, XII. Tại Đại hội X, thuật ngữ “thế trận lòng dân” được Đảng ta đề cập và xác định: “Xây dựng thế trận lòng dân làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”.
Báo cáo chính trị tại Đại hội XI của Đảng chỉ rõ “sức mạnh quốc phòng, an ninh là sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh dân tộc, sức mạnh thời đại, sức mạnh của thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)khẳng định: “Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân vững chắc”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”tiếp tục nhấn mạnh: “không ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”, “xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới”. Tại Đại hội XII, nhận thức về xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân được phát triển lên tầm cao mới: “Xây dựng thế trận lòng dân, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân”(1).
Có thể thấy, nhận thức lý luận, tư tưởng, quan điểm của Đảng về xây dựng thế trận an ninh nhân dân được bổ sung, phát triển ngày càng hoàn thiện, với những nội dung cơ bản:
(1) Xây dựng thế trận an ninh nhân dân, nền an ninh nhân dân là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước.
(2) Thế trận an ninh nhân dân của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được xây dựng, củng cố theo hướng toàn dân, toàn diện, trên nền tảng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh và sự ổn định, phát triển bền vững của mọi mặt đời sống xã hội.
(3) Phát huy sức mạnh vật chất (tiềm lực kinh tế), sức mạnh tinh thần (tiềm lực văn hóa - xã hội), sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế, yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại, nội lực với ngoại lực để xây dựng, củng cố thế trận an ninh nhân dân.
(4) Lực lượng nòng cốt tham mưu cho các cấp ủy Đảng, chính quyền xây dựng, củng cố thế trận an ninh nhân dân là công an, có trách nhiệm tham mưu với Đảng, Nhà nước ban hành chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân; phối hợp với các ban, bộ, ngành, địa phương phát động phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng, triển khai các đề án, phương án, kế hoạch, bố trí lực lượng bảo đảm an ninh trên các tuyến, địa bàn, lĩnh vực nhằm chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các hoạt động xâm phạm an ninh, trật tự của đất nước.
(5) Kết hợp thế trận an ninh nhân dân với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận lòng dân trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, thế trận lòng dân là nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.
Thể chế hóa quan điểm của Đảng về thế trận an ninh nhân dân, Luật An ninh quốc gia năm 2004, Điều 3, Khoản 10 quy định: “Thế trận an ninh nhân dân là việc tổ chức, bố trí lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia và các nguồn lực cần thiết để chủ động bảo vệ an ninh quốc gia”; nhiệm vụ xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân được quy định tại Điều 16:
“1. Vận động toàn dân tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, giáo dục, động viên cán bộ, công chức, người lao động và mọi công dân tham gia xây dựng địa phương, cơ quan, tổ chức vững mạnh; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
2. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, kế hoạch bảo vệ an ninh quốc gia gắn với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại và kết hợp chặt chẽ với xây dựng nền quốc phòng toàn dân.
3. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia; xác định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bảo vệ an ninh quốc gia.
4. Xây dựng lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia vững mạnh; xây dựng các phương án và tổ chức, bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để chủ động bảo vệ an ninh quốc gia trong mọi tình huống”.
Trong những năm qua, quán triệt, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, lực lượng Công an nhân dân đã chủ động tham mưu với cấp ủy, chính quyền các cấp xây dựng, củng cố vững chắc cơ sở chính trị, khối đại đoàn kết toàn dân và sự phát triển mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm sự ổn định, vững mạnh của hệ thống chính trị; chăm lo giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước. Chủ động xây dựng, triển khai các đề án, chương trình, kế hoạch; bố trí lực lượng, phương tiện bảo đảm an ninh, trật tự trên các tuyến, địa bàn, lĩnh vực. Phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành, địa phương trong tổ chức phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc với nội dung, hình thức phong phú, đa dạng, phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng địa bàn, lĩnh vực. Qua đó, thế trận an ninh nhân dân được xây dựng, củng cố, kết hợp chặt chẽ với thế trận quốc phòng toàn dân, nhất là trên các địa bàn chiến lược, xung yếu, phức tạp; quan hệ phối hợp giữa Công an nhân dân với các cấp, các ngành được mở rộng, ngày càng đi vào chiều sâu. Khơi dậy, quy tụ và phát huy nhân tố chính trị - tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân tham gia bảo vệ an ninh, trật tự, trong đó, nhân dân đã cung cấp hàng triệu tin có liên quan đến an ninh, trật tự, rất nhiều tin có giá trị giúp cơ quan chức năng phát hiện, ngăn chặn, điều tra, xử lý nhiều vụ án nghiêm trọng, giải quyết ổn định nhiều vụ việc phức tạp ngay từ đầu và tại cơ sở. Lực lượng công an nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, giữ vững thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.
Đất nước ta bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng trong bối cảnh tình hình thế giới biến động phức tạp, đa dạng, khó lường. Sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự, bảo vệ Tổ quốc có nhiều thuận lợi cơ bản, nhưng cũng đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau. Các hoạt động xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nước ta vẫn gia tăng, bất chấp luật pháp quốc tế. Các thế lực thù địch, phản động tiếp tục đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, sử dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”, “dân tộc” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên cùng với sự xuống cấp về các giá trị văn hóa, đạo đức, tình trạng phân cực giàu nghèo, khiếu kiện đông người có xu hướng ngày càng tăng. Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, khủng bố, chiến tranh mạng, mất an ninh thông tin tiềm ẩn nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia. Tình trạng vi phạm pháp luật, tội phạm có xu hướng gia tăng, trật tự, an toàn xã hội còn diễn biến phức tạp. Nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự đặt ra hết sức nặng nề, đòi hỏi phải tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân để bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, an ninh và an toàn xã hội phục vụ xây dựng và phát triển đất nước. Thời gian tới, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, lực lượng công an cần tập trung thực hiện hiệu quả một số công tác trọng tâm sau:
Một là, thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của Bộ Công an về xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, trọng tâm là Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 3-6-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”; Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25-10-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Chỉ thị số 09-CT/TW, ngày 01-12-2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới”; Chỉ thị số 04/CT-BCA-V28, ngày 21-4-2014 của Bộ Công an về “Tăng cường xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới”.
Hai là, chủ động tham mưu với cấp ủy, chính quyền các cấp đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, tầm quan trọng, ý nghĩa chiến lược của việc xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Có chủ trương, giải pháp giúp nhân dân phát triển kinh tế, cải thiện đời sống; xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh; phát huy vai trò của những người có uy tín trong cộng đồng dân cư; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh các vụ việc tiêu cực, tham nhũng, tập trung giải quyết dứt điểm ngay từ cơ sở các vụ khiếu kiện tranh chấp có liên quan trực tiếp đến lợi ích chính đáng của người dân, không để phát sinh thành “điểm nóng” về an ninh, trật tự. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, nâng cao tinh thần trách nhiệm, năng lực làm chủ của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân trong công tác bảo vệ an ninh, trật tự.
Ba là, xây dựng, triển khai thực hiện có hiệu quả các phương án, kế hoạch phòng, chống gây rối, biểu tình, bạo loạn, khủng bố; các đề án đảm bảo an ninh chính trị nội bộ, an ninh tư tưởng, văn hóa, an ninh kinh tế, an ninh thông tin. Tăng cường công tác nắm tình hình, xác lập các tuyến, lĩnh vực, địa bàn trọng điểm và có kế hoạch bố trí lực lượng, phương tiện, nguồn lực cần thiết để xây dựng thế trận an ninh liên hoàn, gắn kết với kế hoạch nghiệp vụ khác, giành thế chủ động trong phòng ngừa, tấn công các loại tội phạm. Rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm an ninh, trật tự, phát hiện những quy định không còn phù hợp để kiến nghị bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới nhằm tiếp tục thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân; quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bảo vệ an ninh, trật tự, xây dựng và củng cố thế trận an ninh nhân dân.
Bốn là, tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp tổ chức thực hiện phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, huy động cho được sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân tham gia bảo vệ an ninh, trật tự. Tăng cường công tác tuyên truyền nêu gương người tốt, việc tốt; động viên, khích lệ nhân dân tích cực tham gia xây dựng khu dân cư, xã, phường, doanh nghiệp, nhà trường an toàn; xây dựng, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến; kịp thời khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc; có chính sách thỏa đáng đối với những trường hợp bị thương, hy sinh hoặc bị thiệt hại về tài sản, danh dự khi tham gia phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Tăng cường quan hệ phối hợp giữa lực lượng Công an nhân dân với Quân đội nhân dân và các ban, bộ, ngành, địa phương trong xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân. Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh, trật tự với các nước, nhất là các nước láng giềng, các nước ASEAN, các nước lớn, các nước bạn bè truyền thống đi vào chiều sâu, ổn định, vững chắc.
Năm là, xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Bố trí hợp lý cơ cấu, tổ chức, nhiệm vụ của các lực lượng trong Công an nhân dân, nhất là ở các tuyến, địa bàn trọng điểm, Công an cấp huyện, các đơn vị trực tiếp chiến đấu; xây dựng lực lượng công an xã, lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở trong sạch, vững mạnh. Bảo đảm yêu cầu xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, thực sự vì dân, gần dân, được dân tin yêu, ủng hộ, giúp đỡ - đó là nhân tố cơ bản để lực lượng công an làm tốt vai trò tham mưu phối hợp xây dựng và củng cố thế trận an ninh nhân dân. Quan tâm đầu tư ngân sách, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật và ứng dụng khoa học, công nghệ phục vụ công tác, chiến đấu đối với lực lượng Công an nhân dân và lực lượng nòng cốt làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở. Đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân. Nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân tại các nhà trường Công an nhân dân và các lớp giáo dục quốc phòng, an ninh cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Sáu là, tiếp tục tham mưu cho Đảng, cùng các ngành, các cấp thực hiện tốt đường lối của Đảng về xây dựng, phát triển nền văn hóa và con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, đặc biệt là Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Chú trọng yêu cầu phát triển nền văn hóa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; xây dựng con người Việt Nam giàu tinh thần yêu nước, văn minh, hiện đại - nhân tố quyết định đến sự phát triển của đất nước và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
__________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 9-2016
(1) ĐCSVN:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII,Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.149.
Thượng tướng, GS, TS TÔ LÂM
Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an
Không cho phép xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với cuộc bầu cử đại biểu quốc hội
20:43 |
Càng gần đến ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị càng quyết liệt chống phá. Trong đó, chúng xuyên tạc vai trò chính danh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Cuộc bầu cử lần này, cần phải vạch mặt và bác bỏ.
Hiện nay, trên một số trang mạng tự gọi là “lề dân”, có kẻ cho rằng: Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, việc đề cử chỉ là “độc quyền của Đảng” và các tổ chức “nối dài” của họ. Ngoài “vài” người được Đảng lựa chọn “ngầm”, hầu hết những người tự ứng cử bị loại bỏ một cách “không thương tiếc”(!). Và người ta “kêu gọi” các nhà “dân chủ” mạng hãy “tự ứng cử”; hô hào “ký tên” ảo, tung hô, ủng hộ cho người này, người kia,… để gây rối, phá hoại Cuộc bầu cử.
Mới đây, theo “mạch” tư duy kỳ thị với chế độ, chống phá Nhà nước, người ta lại tung lên mạng nhiều bài viết về “tính chính danh” của Cuộc bầu cử này. Theo họ, các cuộc bầu cử ở Việt Nam không có tính “chính danh” (!). Vậy sự thực như thế nào?
Như mọi người đều biết, cho đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, người dân Việt Nam chưa bao giờ biết đến quyền công dân, quyền con người. Trong khi đó, các quyền này của người dân ở các quốc gia như Hà Lan, Anh (thế kỷ XVII); ở Mỹ, Pháp (thế kỷ XVIII) đã được hưởng (sau các cuộc cách mạng dân chủ tư sản). Đối với nước ta, thực dân Pháp, tiếp đó là đế quốc Mỹ đã tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược chẳng những không mang lại quyền công dân, quyền con người cho nhân dân Việt Nam, mà còn áp đặt chế độ thống trị trên cơ sở bảo tồn chế độ phong kiến thối nát, tàn bạo. Các quyền công dân và quyền con người chỉ đến với nhân dân Việt Nam qua cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.
Cuộc bầu cử đầu tiên của nhân dân Việt Nam vào ngày 06-01-1946, diễn ra ngay trong lúc thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn. Sau đó, Quốc hội và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) và Hiến pháp đầu tiên của nhân dân ta - Hiến pháp năm 1946 ra đời. Sự kiện này diễn ra cho đến nay đã tới 2/3 thế kỷ (70 năm). Tất nhiên, nhân dân ta cũng đã trải qua 13 lần bầu cử đại biểu Quốc hội, trong những bối cảnh chính trị khác nhau. Có những cuộc bầu cử diễn ra trong chiến tranh, có những cuộc bầu cử diễn ra trong thời kỳ hòa bình và gần đây là những cuộc bầu cử trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế. Cho dù hoàn cảnh nào, các cuộc bầu cử của nhân dân ta vẫn chọn ra được các đại biểu Quốc hội - những người đại diện cho nhân dân Việt Nam. Tất nhiên, trong đó có người đã thoái thác trách nhiệm nhân dân giao phó, đào tẩu và có cả người bị bãi miễn. Tuy nhiên, không phủ nhận rằng, tất cả các cuộc bầu cử nói trên đều do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và các tổ chức, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể triển khai thực hiện theo Luật Bầu cử và nghị quyết của Thường vụ Quốc hội. Thực tế cho thấy, đa số ứng cử viên của Đảng đã trúng cử và khẳng định xứng đáng với sự tín nhiệm của cử tri. Điều này không có gì khó hiểu và cũng không có gì là bất bình thường cả!
Ở các quốc gia theo chế độ đa đảng, cử tri bỏ phiếu cho các ứng cử viên của đảng mà họ lựa chọn. Do đó, số đại biểu của các đảng chính trị trong nghị viện, quốc hội thường chiếm đa số. Sự trúng cử của số đại biểu tự do là rất ít. Ở Việt Nam cũng như những quốc gia theo chế độ một đảng lãnh đạo, đương nhiên, đại biểu quốc hội (nghị viện), đảng viên của đảng chiếm đa số.
Vậy tính chính danh của một cuộc bầu cử là gì?
Trước hết, tính chính danh của một cuộc bầu cử dựa trên tiền đề chính trị, đó là chế độ chính trị và lực lượng lãnh đạo, cầm quyền chế độ đó có “chính danh” không?
Có một sự thật là - không ở đâu và bao giờ một quần thể, một đám đông quần chúng hay nhân dân tự mình đứng lên cầm quyền cả. Chỉ những kẻ mỵ dân và ấu trĩ về tri thức chính trị mới cho rằng, vai trò cầm quyền của người dân là tự lập. Sự phân chia giai cấp, phân tầng xã hội tất yếu sẽ dẫn đến việc ra đời các tổ chức chính trị, những đảng chính trị. Đến lượt nó, những đảng chính trị này thông qua hiến pháp, pháp luật (còn gọi là khế ước xã hội), họ trở thành lực lượng lãnh đạo, cầm quyền nhà nước và xã hội. Đồng thời, lực lượng chính trị cầm quyền này thiết lập các cơ chế quản lý nhà nước và xã hội theo quan điểm của mình. Cơ chế đó bao gồm tổ chức nhà nước: cơ quan quyền lực hay lập pháp (quốc hội), cơ quan hành pháp (chính phủ), cơ quan tư pháp (kiểm sát, tòa án). Cho đến nay, đã có nhiều thể chế tổ chức nhà nước vận hành khác nhau, trong đó có chế định của hiến pháp về bầu cử.
Ở nước ta, tính chính danh của các cuộc bầu cử dựa trên thể chế chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã hơn 70 năm, từ khi nhân dân ta giành được độc lập (năm 1945) đến nay. Việc nhân dân Việt Nam thông qua Hiến pháp như thế nào tùy thuộc vào quy định của Quốc hội. Không ai có quyền áp đặt cách thức phê chuẩn Hiến pháp phải như thế này hay như thế khác cho nhân dân Việt Nam. Quan niệm “người dân Việt Nam chưa được thực hiện việc chuẩn thuận bất kỳ một bản Hiến pháp nào” là hoàn toàn xa lạ với nhân dân ta! Còn nhớ, trước khi Quốc hội bỏ phiếu thông qua Hiến pháp năm 2013, văn kiện này đã được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng để lấy ý kiến nhân dân, kể cả đồng bào ta ở nước ngoài. Nhiều chuyên gia trong và ngoài nước cho rằng, Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam là một trong những bản Hiến pháp tiến bộ, đã cập nhật nhiều giá trị chung của nhân loại, nhất là bản Hiến pháp này đã hiến định tất cả các quyền con người.
Họ cho rằng, trong các cuộc bầu cử, “người dân được đi bầu nhưng toàn bộ quá trình, quy trình, thủ tục bầu cử vẫn bị chi phối, chịu tác động bởi Đảng Cộng sản Việt Nam”, thì điều này lại càng dễ hiểu. Đó là sự hiển nhiên. Điều 4 Hiến pháp năm 2013 đã hiến định vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội, chẳng lẽ Đảng Cộng sản Việt Nam để Cuộc bầu cử này cho các “nhà dân chủ mạng” dẫn dắt theo quan điểm của phương Tây?
Tất nhiên, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào ngoài việc bảo đảm đầy đủ các quyền bầu cử, ứng cử của công dân, bảo đảm an toàn cho cuộc bầu cử, đồng thời ngăn ngừa kẻ xấu lợi dụng quyền dân chủ để phá hoại các cuộc bầu cử.
Trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân của Việt Nam năm 2015 có quy định về Hội nghị Hiệp thương. Đây là hội nghị giữa các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hội nghị Hiệp thương cùng với vai trò của Hội đồng bầu cử Quốc gia là cơ chế dân chủ quan trọng trong bầu cử Quốc hội. Hội nghị Hiệp thương nhằm bảo đảm đúng tiêu chuẩn, cơ cấu đại biểu (bảo đảm đầy đủ các giai cấp, tầng lớp, thành phần dân tộc, giới tính, tôn giáo,… tham gia) và tạo ra sự đồng thuận xã hội.
Thực tế cho thấy, nếu không có hoạt động hiệp thương thì không thể có một danh sách đề cử mang đầy đủ tính đại diện cho cơ quan quyền lực. Do đó, không thể bảo đảm quyền của người dân tham gia vào công việc quản lý Nhà nước. Thực tế cũng cho thấy, cử tri thường dựa vào kết quả hiệp thương để cân nhắc khi bỏ phiếu cho ứng cử viên nào.
Chỉ thị 51-CT/TW, ngày 04-01-2016 của Bộ Chính trị (khóa XI) về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021 yêu cầu:
- Bảo đảm Cuộc bầu cử được tiến hành dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật; giới thiệu những người tiêu biểu, có quan điểm, lập trường chính trị vững vàng, đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật. Đặc biệt, “Không đưa vào danh sách ứng cử người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực; có tư tưởng cục bộ, bảo thủ,…”.
- Cuộc bầu cử lần này cần chú ý đến cơ cấu đại biểu: giảm hợp lý số đại biểu công tác tại cơ quan hành chính; tăng số lượng đại biểu chuyên trách; bảo đảm tỷ lệ người ứng cử là phụ nữ, người dân tộc thiểu số và có tỷ lệ hợp lý đại biểu các tôn giáo, đại biểu trẻ tuổi, đại biểu là các nhà khoa học, trí thức, văn nghệ sĩ, đại biểu xuất thân từ công nhân, nông dân, doanh nhân, đại diện các hiệp hội, nghiệp đoàn về các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, v.v. Trong Chỉ thị này, hoàn toàn không có chuyện Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền bầu cử hoặc yêu cầu cử tri phải bỏ phiếu bầu cho đại biểu của Đảng.
Như vậy, ai đó cho rằng: các cuộc bầu cử ở Việt Nam như “một mâm cơm đã được soạn sẵn, ăn gì, ăn bao nhiêu, mắm muối thế nào đã được hệ thống quyền lực áp đặt trước”, người dân “không thể chọn được người thực sự đại diện cho mình” là một sự xuyên tạc trắng trợn, thủ đoạn chính trị xấu xa, hòng làm giảm uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam và chuyển hóa chế độ xã hội ta sang mô hình “dân chủ”, “nhân quyền” ngoại nhập.
Những công dân Việt Nam chân chính và tất thảy những người có lương tri trên thế giới không bao giờ chấp nhận và cho phép những âm mưu và hành động thâm độc, nguy hiểm đó tồn tại làm vẩn đục bầu không khí bầu cử dân chủ ở nước ta - ngày hội lớn của toàn dân.
TRUNG THÀNH
Nguồn: tapchiqptd.vn
“Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị"
02:35 |
Một trong những cống hiến đặc sắc của Hồ Chí Minh cả mặt lý luận và thực tiễn về vấn đề Đảng là Người đã kết hợp một cách đúng đắn và nhuần nhuyễn tính giai cấp, tính tiền phong, tính trí tuệ, tính đạo đức và tính quần chúng trong công tác xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam và rèn luyện đảng viên. Trong hoàn cảnh cụ thể của nước ta, một nước thuộc địa, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là "sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước". Như vậy ngay từ đầu, Đảng đã bắt rễ sâu trong "miếng đất màu mỡ" của dân tộc mang trong mình sự gắn bó chặt chẽ vấn đề giai cấp và dân tộc và Hồ Chí Minh đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác-Lênin, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp, kết hợp giác ngộ dân tộc với giác ngộ giai cấp trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin.
Trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2 - 1951), Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam"([1]). Năm 1953, Hồ Chí Minh viết: “ Đảng lao động là tổ chức cao nhất của giai cấp cần lao và đại biểu cho lợi ích của cả dân tộc…Đảng là đảng của giai cấp lao động, mà cũng là đảng của toàn dân”(2). Năm 1957, Hồ Chí Minh khẳng định lại: “ Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc”(3). Trong giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, năm 1961, Người nhắc lại: "Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư thiên vị"(4).
Nói tới một đảng cộng sản chân chính trước hết phải nhận thức đó là đảng của giai cấp công nhân, tức là nói tới tính giai cấp, đảng mang bản chất giai cấp công nhân. Đảng ta từ lúc ra đời và suốt quá trình xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân. Những biểu hiện cụ thể là xác định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, đi tới chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn thấp là chủ nghĩa xã hội. Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin. Nguyên tắc tổ chức,sinh hoạt là tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, kỷ luật nghiêm minh tự giác, đoàn kết thống nhất.
Cùng với tính giai cấp, Đảng phải giữ vững tính tiền phong, nghĩa là Đảng luôn luôn ở vị trí đi đầu, dẫn đầu, hăng hái, tích cực nhất.. Đảng đứng mũi chịu sào, đi tiên phong, có mặt trong quần chúng nhưng không bao giờ đứng trên hoặc theo đuôi quần chúng.
Những vấn đề đó từ Mác đến Lênin, đặc biệt là Lênin đã khẳng định và nhiều lần nhấn mạnh, sau đó Hồ Chí Minh đã cụ thể hoá vấn đề "trở thành dân tộc" trong lý luận Mác-Lênin phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam nơi mà chủ yếu là nông dân và các thành phần yêu nước khác, còn giai cấp công nhân chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ.
Dưới ánh sáng lý luận Mác- Lênin và từ thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định bản chất giai cấp công nhân mà không triệt tiêu vấn đề dân tộc trong Đảng; nói "Đảng của dân tộc Việt Nam" mà không làm mất và giảm lập trường giai cấp; ngược lại là một minh chứng hùng hồn cho "Đảng của giai cấp công nhân". Bản chất giai cấp của Đảng càng sâu sắc thì tính dân tộc càng đậm nét; tính dân tộc càng đậm nét thì càng làm cho tính giai cấp sâu sắc hơn. Hai tính chất này bổ sung cho nhau để khẳng định một đảng cách mạng chân chính theo đúng nguyên lý Đảng kiểu mới của Lênin, nhưng ra đời và trưởng thành ở một nước thuộc địa.
Căn cứ vào luận điểm kinh điển và tuân thủ những quan điểm của Lênin về xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp vô sản thì chỉ cần khẳng định Đảng ta là "Đảng của giai cấp công nhân" là đủ. Nhưng một sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh là Người đã bổ sung một vế "đồng thời cũng là Đảng của dân tộc Việt Nam". Vì thế, cần thấm nhuần bản lĩnh và trí tuệ của Người trên mấy mặt:
Một là, về mặt bản chất giai cấp của Đảng thì chỉ có một, đó là Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, nhưng cơ sở xã hội của Đảng là toàn dân tộc. Mọi công dân Việt Nam – chớ không phải chỉ có giai cấp công nhân- qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú, được nhân dân tín nhiệm đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng.
Hai là, Đảng có trách nhiệm to lớn không chỉ đối với giai cấp công nhân, mà còn đối với nhân dân lao động và cả dân tộc. Trách nhiệm này vừa có tính chiến lược lâu dài, là xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, công bằng, văn minh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới, vừa mang tính lợi ích cụ thể. Hồ Chí Minh khẳng định: "Hễ còn có một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa lo tính công việc lớn như đổi nền kinh tế và văn hoá lạc hậu của nước ta thành một nền kinh tế và văn hoá tiên tiến, đồng thời lại luôn luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà mắm muối cần thiết cho đời sống hằng ngày của nhân dân"(5). Trách nhiệm này đồng thời cũng là vinh dự của Đảng. Bởi vì nếu Đảng làm được điều đó thì Đảng vừa "bao trùm cả nước, đồng thời vì nó gần gũi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta"(6). Đảng ta không thiên tư thiên vị, lo việc cho cả nước. Ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác. Đó là một trong những lý do làm cho Đảng ta vĩ đại.
Ba là, Đảng của dân tộc Việt Nam nghĩa là Đảng có một cội nguồn vững chắc tạo nên sức mạnh to lớn cho Đảng là dân tộc; đó là những "đồng bào" tuy chưa phải là đảng viên nhưng vẫn luôn tự hào nói tới "Đảng ta". Vì vậy, nói tới Đảng của dân tộc Việt Nam, đặc biệt trong điều kiện Đảng cầm quyền, thì một yêu cầu cơ bản, xuyên suốt đối với Đảng là Đảng phải gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ, chịu sự giám sát của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng.
Tóm lại, khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam là một luận điểm mới của Hồ Chí Minh, bổ sung vào học thuyết về Đảng Cộng sản của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Hạt nhân sáng tạo thể hiện trí tuệ và bản lĩnh của Hồ Chí Minh ở luận điểm này là những yếu tố yêu nước và dân tộc, trên lập trường giai cấp công nhân, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Trước đây, trong thập kỷ ba mươi, có lúc Hồ Chí Minh bị hiểu lầm, bị đánh giá là nặng về dân tộc, nhẹ về giai cấp, là người "dân tộc chủ nghĩa". Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy việc gắn bó hữu cơ giữa giai cấp và dân tộc là hoàn toàn đúng đắn. Bước vào thập kỷ sáu mươi, khi phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đang tồn tại cả khuynh hướng giáo điều và xét lại, nhưng Hồ Chí Minh vẫn đầy đủ bản lĩnh, không sợ bị quy kết vào khuynh hướng xét lại chủ nghĩa Mác-Lênin. Người cũng không rơi vào bệnh dập khuôn, giáo điều mà vươn tới tầm nhìn biện chứng, sáng tạo giữa tính giai cấp và tính quần chúng, giữa giai cấp và dân tộc. Điều này không chỉ có ý nghĩa trong cách mạng giải phóng dân tộc, mà cả trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Trong giai đoạn hiên nay, Đảng ta xác định xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhiệm vụ hàng đầu là nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Đảng ta nhấn mạnh việc học tập và vận dụng nhuần nhuyễn tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn công tác, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, đấu tranh chống suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí. Gốc rễ của vấn đề là Đảng gắn bó với dân, lấy dân làm gốc. Đảng đồng hành cùng dân tộc. Đảng lãnh đạo nhưng dân làm chủ. Bác Hồ dạy “ có dân là có tất cả”. Nếu “ cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại” (7). Đảng ta trong công cuộc đổi mới đã rút ra bài học quan trọng: “ Từ trước đến nay, bất cứ việc gì đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, của toàn Đảng, được nhân dân và toàn Đảng đồng lòng góp sức thì nhất định thắng lợi (8). Gần đây, trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4-2006), một trong những vấn đề đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng được nêu lên là Đảng ta xác định bản chất giai cấp của Đảng: “ Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”(9). Đây chính là Đảng ta đã thật sự trở lại tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất giai cấp của Đảng. Quán triệt sâu sắc và làm đúng điều này là một động lực của tiến trình cách mạng.
PGS. TS. Bùi Đình Phong
Nguồn: http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn/
Chú thích:
1, Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb CTQG 1995, t6, tr 175
2, Sdd, t.7, tr.230-231
3, Sdd, t. 8, tr.295
4, Sdd, t.10, tr.467.
5- 6, Sdd, t10, tr 4
7, Sdd, t.5, tr.286
8, ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb.CTQG, H,tr. 61
9, Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thứ X, Nxb. CTQG, H, 2006, tr. 130
Chủ nghĩa Mác – Lê-nin – học thuyết khoa học, cách mạng, sự lựa chọn đúng đắn của Đảng ta
23:25 |
Từ khi ra đời đến nay, chủ nghĩa Mác – Lê-nin ngày càng được thực tiễn chứng minh tính cách mạng, khoa học, trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam và vũ khí lý luận sắc bén cho hành động cách mạng của giai cấp công nhân và các chính đảng của giai cấp công nhân trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.
Sau khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào thoái trào, chủ nghĩa Mác – Lê-nin luôn bị các thế lực thù địch tăng cường xuyên tạc sự thật bóp méo, phủ nhận. Chúng hô hào, tung ra những luận điệu đặc biệt nguy hại, như: “Chủ nghĩa Mác chỉ là sản phẩm của nền công nghiệp cơ khí thế kỷ XIX, không thể áp dụng trong nền khoa học và công nghệ hiện đại với quy mô toàn cầu hiện nay”(!). “Chủ nghĩa Mác là sản phẩm của nền công nghiệp phương Tây, không phù hợp với văn hóa phương Đông và Việt Nam”(!). Cả lý luận và thực tiễn cho thấy, đó là những quan điểm sai trái, xuyên tạc và bịa đặt.
Sở dĩ khẳng định được điều đó, xuất phát từ mục tiêu, lý tưởng mà chủ nghĩa Mác – Lê-nin là khát vọng chân chính về tiến bộ của nhân loại. Đó là, giải phóng con người hoàn toàn khỏi ách áp bức, bóc lột, làm cho con người được ấm no, tự do và hạnh phúc. Đây là ước vọng của toàn nhân loại ở khắp năm châu chứ không chỉ ở phương Tây và đâu phải chỉ đến cách mạng khoa học kỹ thuật thế kỷ XIX – XX mới có. Ước vọng đó có từ chế độ cộng sản nguyên thủy đến nay. Mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin là sự khái quát hóa, trừu tượng hóa những mong muốn, ước vọng ngàn đời của con người và hoạch định trước về mục tiêu, hướng đích mà con người tất yếu phải đi tới một xã hội tương lai không còn áp bức, bóc lột, bất công. Logic về sự lựa chọn con đường tới đích cuối cùng của xã hội hiện thực ở cả phương Tây lẫn phương Đông đều nằm trong cái tất yếu mà chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã khái quát, tiên liệu.
Lịch sử đã chứng minh chủ nghĩa Mác – Lê-nin là khoa học biện chứng, hiện đại. Đây là khoa học nghiên cứu, luận giải về những quy luật phổ biến về sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy; về cách mạng của quần chúng bị áp bức, bóc lột, về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Giá trị bền vững tự nhiên của chủ nghĩa Mác – Lê-nin là sự chính xác về khoa học, tính toàn diện, hệ thống và biện chứng, nhằm giải phóng người lao động, giải phóng xã hội khỏi áp bức, bóc lột và mọi sự tha hóa, thực hiện một xã hội công bằng, nhân đạo. Thử hỏi, trước hay cùng thời với C.Mác, V.I.Lê-nin có khoa học nào đưa ra được một học thuyết hoàn bị đến như vậy? Sau C.Mác và V.I.Lê-nin có ai đưa ra được một khoa học về xã hội với mục tiêu tiến bộ, triệt để như các ông? Mục tiêu mà C.Mác và V.I.Lê-nin đưa ra chẳng phải là ước mơ ngàn đời nay của người lao động chân chính sao? Chẳng phải là sự kết thúc mà những kẻ áp bức, bóc lột cả “truyền thống” lẫn hiện đại khiếp sợ nhất đó sao? Vì vậy, sự bịa đặt, xuyên tạc, bài bác các lý tưởng cao đẹp của con người nói chung, chủ nghĩa Mác – Lê-nin nói riêng đã thuộc về bản chất của những người có ý thức hệ đối lập, thù địch. Tuy vậy, cứ mỗi lần phải chống lại các trào lưu tư tưởng đối lập thì lại một lần chủ nghĩa Mác – Lê-nin chứng tỏ sức sống mãnh liệt của mình; các tư tưởng tư sản phản động, các loại chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản, chủ nghĩa cơ hội, xét lại, chủ nghĩa vô chính phủ và đủ loại “sắc mầu” khác đều thất bại, nhục nhã ê chề. Những thế lực và những cá nhân xu thời dù có khuấy động, tranh thủ ít nhiều một bộ phận dân chúng, những người mơ hồ, ảo tưởng về một xã hội được trang điểm bằng những nhãn mác “dân chủ”, “công bằng”, “bình đẳng”, ngoài lý tưởng, con đường mà chủ nghĩa Mác – Lê-nin vạch ra đều vỡ mộng, bị nhân dân lao động từ chối, lên án và lịch sử phủ nhận.
Với linh hồn sống là phép biện chứng duy vật, về lý luận kinh tế là học thuyết giá trị thặng dư và phát kiến vĩ đại về chủ nghĩa duy vật lịch sử mà nội dung cơ bản là học thuyết Hình thái kinh tế - xã hội cùng với việc chỉ rõ vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân,... đã chứng tỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin cho đến nay vẫn là đỉnh cao trí tuệ nhân loại về khoa học xã hội, chưa gì có thể thay thế được. Việc bổ sung, phát triển hoàn thiện của các Đảng Cộng sản là tất yếu, song, không vì thế mà làm mất đi tính khoa học của nó. Với giai cấp công nhân và nhân dân lao động bị áp bức trên toàn thế giới, chủ nghĩa Mác – Lê-nin luôn là vũ khí lý luận sắc bén để đấu tranh tự giải phóng mình; còn với các giai cấp áp bức, bóc lột (nhất là giai cấp tư sản), chủ nghĩa Mác – Lê-nin mãi là nỗi khiếp đảm, sợ hãi nhất. Cho dù, họ cố tình bóp méo, xuyên tạc thế nào chăng nữa, chủ nghĩa Mác – Lê-nin vẫn luôn trường tồn, với sức sống dẻo dai và giá trị bền vững xuyên suốt thời gian, không gian trong xã hội loài người.
Trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng, các chính trị gia tư sản phản động đã và đang hí hửng tung ra đủ thứ lý luận nhằm bác bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, rêu rao về sự tất yếu diệt vong của chủ nghĩa cộng sản, về “Sự tận cùng của lịch sử”, về “Chiến thắng không cần chiến tranh”, v.v. Thật đáng tiếc, có những người một thời được coi là người mác xít, giờ đây lại xuyên tạc, bác bỏ, công kích chủ nghĩa Mác – Lê-nin và cách mạng nước ta. Họ cho rằng, học thuyết đó đã “lỗi thời”, “bị lịch sử bỏ qua”(!) Để tăng thêm “sức nặng” quan điểm của mình, họ thường dùng các chiêu trò: viện dẫn những sai lầm, thiếu sót của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, nhất là Liên Xô (cũ), ra sức chứng minh “kinh tế tri thức, nền văn minh tin học không dung nạp chủ nghĩa xã hội”,… để rồi quy kết: “sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở một mảng lớn trên thế giới chứng tỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin là một sai lầm”(!). Họ hô hào thay Đại hội XII của Đảng bằng một “Hội nghị Diên Hồng thời đại mới để chung sức tìm ra một giải pháp chính trị cho đất nước đang lâm vào khủng hoảng và bế tắc”, v.v. Nhưng họ không hiểu hay cố tình không hiểu “Học thuyết Mác là học thuyết vạn năng, vì nó là một học thuyết chính xác. Đó là một học thuyết cân đối và hoàn bị, nó cho người ta một thế giới quan hoàn chỉnh, không thỏa hiệp với bất cứ sự mê tín nào, một hành vi phản động nào, một hành vi bảo vệ sự áp bức của tư sản”.
Thực tiễn cho thấy, cuộc khủng hoảng tài chính kéo theo sự suy thoái kinh tế toàn cầu khởi phát năm 2008, nổ ra giữa tiền đồn của thế giới tư bản - Hoa Kỳ, đã tạo ra cái “bóng đen” bao trùm toàn xã hội về một sự trắng tay, với những khối tài sản khổng lồ do tước đoạt và tích lũy tư bản hàng ngàn đời nay, những nhà tư bản kếch sù cùng giới tài phiệt là nhanh chân hơn cả trong việc tìm đọc và nghiên cứu lại bộ Tư bản của C.Mác, hòng tìm cách “vá víu” lối thoát trước cảnh sinh - tử của mình. Trước tình cảnh đó, nhà xã hội học người Mỹ Michael Burawoy (2000) nhận xét, chủ nghĩa Mác như chiếc boomerang - càng cố tình ném nó đi xa thì càng khiến nó mau quay trở lại, vì cốt lõi của học thuyết này chính là sự phê phán sâu sắc chủ nghĩa tư bản. Ngay cả học giả có tư tưởng bảo thủ như Robert Kagan (2008) lại dùng chính ngôn từ “kết thúc của sự cáo chung của lịch sử” trước đó vốn ám chỉ chủ nghĩa Mác – Lê-nin để mỉa mai những người đã “mừng hụt” và bịa đặt về chủ nghĩa xã hội trên thế giới gần hai thập niên sau khi Liên Xô sụp đổ. Trong cơn suy thoái của nước Mỹ và để cuộc tranh cử vào Nhà trắng lần hai thắng lợi, người đứng đầu nước Mỹ - Tổng thống Obama đã đưa ra các chủ trương, chính sách “nửa xanh, nửa đỏ” - tự do, công bằng, bình đẳng, về một xã hội “tiến lên xã hội chủ nghĩa”.
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, ngoài chủ nghĩa Mác – Lê-nin, các học thuyết về xã hội chỉ đặt ra việc cải tạo xã hội thông qua sự thay thế giai cấp bóc lột này bằng giai cấp bóc lột khác để thống trị xã hội. Với lý luận về cách mạng xã hội và đấu tranh giai cấp, chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã thực hiện một cuộc cách mạng trong toàn bộ quan niệm về lịch sử. Ở đó, vấn đề trung tâm là lật đổ giai cấp bóc lột, đưa giai cấp những người lao động, trước hết là giai cấp công nhân trở thành chủ nhân đích thực của xã hội. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin cũng đã chỉ ra đặc trưng riêng có, bản chất, sự sống còn của chủ nghĩa tư bản là dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê. Thiếu hai vấn đề cơ bản này thì chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản sẽ hoàn toàn biến mất khỏi đời sống nhân loại. Điều mà giai cấp tư sản và các bồi bút của nó luôn rắp tâm che đậy giai cấp những người làm thuê, bị bóc lột. Từ vận dụng phép biện chứng duy vật vào lĩnh vực xã hội, “chủ nghĩa Mác mở đường cho việc nghiên cứu rộng rãi và toàn diện quá trình phát sinh, phát triển và suy tàn của các hình thái kinh tế – xã hội”. Với học thuyết giá trị thặng dư, chủ nghĩa Mác đã bóc trần nguồn gốc hình thành nên thu nhập của các nhà tư sản và giai cấp bóc lột trong chủ nghĩa tư bản, nhờ chiếm đoạt giá trị thặng dư của công nhân làm thuê. Điều mà những kẻ bóc lột, nhất là giai cấp tư sản muốn chôn vùi, che giấu nhân loại để biện minh cho sự giàu lên của họ trong sự bần cùng của giai cấp lao động làm thuê. Với những quy luật phổ biến mà chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã chỉ ra, có thể khẳng định, sự phát triển của nhân loại trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay là một tất yếu và đã được dự báo cách đây hàng trăm năm. Điều đó, chứng tỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin vẫn là học thuyết khoa học, cách mạng duy nhất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ lịch sử. Đời sống xã hội đương đại dù còn nhiều phức tạp và có thể còn phải trải qua biết bao thăng trầm, biến cố; cục diện thế giới dù có đổi thay thế nào chăng nữa, cũng luôn tuân theo những quy luật phổ biến đã được chủ nghĩa Mác – Lê-nin chỉ ra.
Chủ nghĩa Mác – Lê-nin mãi mãi là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng ta. Hơn tám thập niên qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn phấn đấu, hy sinh làm cho đất nước hoàn toàn được độc lập, nhân dân được ấm no, dân tộc vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu. Nhờ được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp chặt chẽ với tinh hoa truyền thống văn hóa dân tộc và nhân loại, Đảng đã lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống thực dân, đế quốc thắng lợi, mang lại nền độc lập, tự do, hòa bình cho đất nước; khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước ngày càng phát triển; đời sống nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc; quốc phòng, an ninh vững mạnh, chủ quyền quốc gia được giữ vững, vị thế đất nước được tăng cường, quan hệ quốc tế ngày càng rộng mở, hội nhập tích cực và sâu rộng với khu vực và thế giới, v.v. Đây là những điều mà không chỉ nhân dân Việt Nam mà còn được hầu hết nhân dân và các chính phủ trên thế giới thừa nhận.
Quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, những lúc gặp khó khăn, vấp váp, sai lầm trong tổ chức thực hiện, hoặc bị công kích, bài bác từ nhiều phía, đã nảy sinh không ít những tư tưởng lo ngại về nền tảng tư tưởng của Đảng. Song cần nhận thức, vận dụng phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin trên cả ba phương diện: Lập trường của chủ nghĩa Mác – Lê-nin là lập trường duy vật, cách mạng triệt để. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin là khoa học, xuất phát từ thực tiễn, phát hiện quy luật và làm theo quy luật. Phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lê-nin là phương pháp biện chứng. Đây cũng là lập trường, quan điểm, phương pháp của tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, nắm vững chủ nghĩa Mác – Lê-nin là phải nắm vững lập trường, quan điểm, phương pháp ấy, phải đứng trên quan điểm, lập trường, phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lê-nin để từ đó vận dụng giải quyết những vấn đề cách mạng nước ta, thời cục, thời đại đặt ra và phân biệt rõ các vấn đề: những luận điểm nào trước kia, bây giờ vẫn đúng; những luận điểm nào trước kia đúng, nhưng điều kiện lịch sử hiện nay thay đổi, không còn phù hợp, cần phải bổ sung, phát triển hoặc thay đổi; những luận điểm mà C.Mác, V.I.Lê-nin đã phát hiện sai và đã sửa; những luận điểm nào chúng ta hiểu không đầy đủ, hiểu sai do nghiên cứu không thấu đáo, hoặc hiểu theo cách hiểu không đúng của người khác, đảng khác, v.v. Đây là những vấn đề lý luận, quan điểm lớn, cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ thông qua thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, làm cho chủ nghĩa Mác – Lê-nin ngày càng phát huy, phát triển sống động trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của nước ta.
Trước những thời khắc trọng đại của dân tộc, càng nghiên cứu, học tập và quán triệt, chúng ta càng thấy rõ tính đúng đắn, khoa học và cách mạng, sự phù hợp với Việt Nam của chủ nghĩa Mác – Lê-nin; bác bỏ những xuyên tạc, bịa đặt vô lối của các tư tưởng, quan điểm thù địch, sai trái. Bài học đầu tiên mà Đảng ta nêu trong Đại hội XII: “trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam” đã khẳng định rõ điều đó.
Đại tá, PGS, TS. NGUYỄN VĂN QUANG, Viện Khoa học Xã hội và nhân văn Quân sự, Bộ Quốc phòng
nguồn: tapchiqptd.vn
Thường thức chính trị (1953) (Trích): 37 - Tự phê bình và phê bình
05:04 |
Để nâng cao trình độ lý luận và chính trị thì mỗi đảng viên cần phải luôn luôn thực hành thật thà tự phê bình và phê bình.
Đảng thì dùng cách chỉnh Đảng, chỉnh huấn để giáo dục đảng viên. Nâng cao trình độ lý luận và chính trị, cải tạo mình là một việc trường kỳ và gian khổ.
Nhưng đó là một công tác chủ chốt trong việc xây dựng Đảng mà mỗi đảng viên phải cố gắng.
Về mặt tổ chức: Đảng phải có kỷ luật rất nghiêm. Kiên quyết chống những hiện tượng phớt kỷ luật, phớt tổ chức.
Đảng phải giữ vững chế độ dân chủ tập trung. Phải luôn luôn chỉnh đốn tổ chức, loại bỏ những phần tử xấu ra khỏi Đảng. Phải bồi dưỡng, lựa chọn và dùng cán bộ một cách đúng đắn.
Xây dựng về tư tưởng, về chính trị, về tổ chức, đó là đường lối xây dựng Đảng. Đó không những là công việc của Đảng và của đảng viên mà cũng là của toàn dân ta. Nhân dân giúp xây dựng Đảng bằng cách: hiểu rõ Đảng, ủng hộ Đảng, hưởng ứng những lời kêu gọi của Đảng, ra sức cho Đảng rõ tình hình trong nhân dân, đối với công tác của Đảng thì thật thà phê bình và nêu ý kiến của mình.
Đảng viên thì phải dựa vào nhân dân mà xây dựng Đảng. Tức là: hết lòng ra sức phụng sự nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, học hỏi nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành một khối. Chống bộp chộp, nóng nảy, quan liêu, mệnh lệnh. Như vậy thì nhất định được nhân dân ủng hộ và việc gì to mấy, khó mấy làm cũng nên.
Một đảng có chủ nghĩa Mác - Lênin, có kỷ luật nghiêm khắc, thật thà tự phê bình và phê bình, liên hệ chặt chẽ với nhân dân; một đảng đúng đắn về tư tưởng, về chính trị, về tổ chức như Đảng Lao động Việt Nam, đó là đảm bảo chắc chắn cho kháng chiến nhất định thắng lợi, kiến quốc nhất định thành công.







