Ý KIẾN VỀ TÁC PHẨM “HO CHI MINH: THE MISSING YEARS 1919 – 1941” (Hồ Chí Minh – Những năm tháng bị lãng quên 1919 – 1941) CỦA TÁC GIẢ SOPHIE QUINN – JUDGE

07:00 |

 


GS.TS MẠCH QUANG THẮNG

1. Một số điểm chú ý đầu tiên

Đây là tác phẩm đã được xuất bản tại Mỹ năm 2002 (University of California Press). Có thể nói rằng, cho đến nay, những nhà Hồ Chí Minh học (thực thụ) cả ở trong và ngoài nước Việt Nam không ai là không biết tác phẩm này. Có người biết qua những bài phân tích, những lời giới thiệu, những lời bình phẩm của đồng nghiệp. Có người đọc trực tiếp tác phẩm đó bằng tiếng Anh. Trên nhiều website, tác phẩm này của nữ tác giả Sophie Quinn – Judge đã được giới thiệu, bình luận không ít. Trong nhiều bài báo nghiên cứu Hồ Chí Minh của một số tác giả trong và ngoài nước ta, một số người đã tham khảo, nêu lại ý kiến hoặc trích dẫn nội dung của cuốn sách trên.

Tôi cho rằng, tác phẩm này đã được xuất bản công khai, được bày bán ở các cửa hàng sách, được đặt lên các giá sách thư viện, được đưa vào thư viện điện tử, v.v. Sự hiện diện của tác phẩm này ở Mỹ cũng như ở trên thế giới là điều bình thường khi có ai đó nghiên cứu về Hồ Chí Minh – một nhân vật đặc biệt không những trong lịch sử dân tộc Việt Nam mà còn cả trong tiến trình lịch sử thế giới thế kỷ XX.

Tôi chia những tác phẩm của các tác giả nước ngoài (kể cả người gốc Việt Nam) viết về Hồ Chí Minh thành hai loại chủ yếu: (i) loại nghiên cứu khoa học một cách nghiêm túc, tuy quan điểm và phương pháp nghiên cứu có khác với những nhà Hồ Chí Minh học của Việt Nam; (ii) loại có cái tâm không lành, có thái độ hằn học, thâm thù, chống cộng, chống sự nghiệp cách mạng Việt Nam, và đương nhiên chống cả Hồ Chí Minh, muốn “hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh” như họ đã tuyên bố công khai trên diễn đàn của cái gọi là “Khối 8406”.

Tôi cho rằng, tác phẩm của bà Sophie Quinn – Judge Ho Chi Minh: The Missing Years 1919 – 1941 (và nếu kể thêm một người Mỹ nữa có công trình khoa học về Hồ Chí Minh gần đây nhất là William J.Duiker với tác phẩm Ho Chi Minh: A Life, Hyperion, New York, 2000) là thuộc loại (i) theo sự phân loại trên đây. Năm 2005, trong một lần đến làm việc tại Trường Quản lý nhà nước Kennedy thuộc Đại học Harvard (Mỹ), khi tôi trao đổi ý kiến về hai tác phẩm này với một số giáo sư ở đó thì người ta khen tác phẩm Ho Chi Minh: The Missing Years 1919 – 1941 của bà Sophie Quinn – Judge hơn là tác phẩm Ho Chi Minh: A Life của ông William J.Duiker. Bà Sophie Quinn – Judge là nhà nghiên cứu triết học, lịch sử đã có nhiều công trình khoa học liên quan đến Việt Nam (cũng có thể gọi bà là nhà Việt Nam học). Bà đã nhiều lần sang Việt Nam dự hội thảo, trong đó năm 2009 đến Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh dự hội thảo khoa học trong khuôn khổ hợp tác với Viện Triết học của Học viện.

2. Một tác phẩm nhìn chung có giá trị khoa học tốt

2.1. Tốt về nguồn tài liệu được sử dụng

Cái khó nhất trong nghiên cứu Hồ Chí Minh là các nguồn tài liệu liên quan đến bản thân Hồ Chí Minh. Trong cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh, có rất nhiều “khoảng trống” chưa được biết đến do chưa có tài liệu thật sự xác đáng để minh chứng. Ngay cả một số tác phẩm, tài liệu đã được công bố có liên quan rất nhiều đến tiểu sử Hồ Chí Minh thì cho đến nay nhiều người mới nghi là do Hồ Chí Minh viết chứ chưa chính thức được coi là của Hồ Chí Minh. Chẳng hạn, đó là các tác phẩm Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (Tác giả Trần Dân Tiên, năm 1948); Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ (Chưa rõ tác giả, năm 1924. Trong lần bổ sung Hồ Chí Minh Toàn tập sắp tới, những người sưu tầm đang định đưa vào toàn văn, coi như là văn bản chính thức do Hồ Chí Minh viết, không để phần Phụ lục như bộ Hồ Chí Minh Toàn tập hiện thời nữa); Vừa đi đường vừa kể chuyện (Tác giả T.Lan), v.v.

Vì thế, hiện có không ít “câu chuyện” về Hồ Chí Minh không biết đâu mà lần; và tôi cho rằng, nhiều chứng cứ người viết đưa ra chưa xác đáng, cho nên chưa thể tin cậy được. Trong số đó là ý kiến của Phó giáo sư Hoàng Tranh (Học viện Khoa học xã hội tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc hiện đã nghỉ hưu) với bài viết tương đối dài đăng trong Tạp chí Đông Nam Á tung hoành (Có người dịch là Vòng quanh Đông Nam Á) số 11-2001 (Trung Quốc) đề cập về mối quan hệ “vợ chồng” Hồ Chí Minh – Tăng Tuyết Minh. Chính từ bài viết này của Hoàng Tranh mà rất nhiều người nghiên cứu trên thế giới đã viết theo và dần dần cứ loang ra theo kiểu “vết dầu loang”. Trong tác phẩm này của mình, có vẻ cẩn trọng hơn, bà Sophie Quinn – Judge đề cập thoáng qua, và dường như “câu chuyện” này không phải là chủ đề ưu tiên[1].

Nhìn chung, Ho Chi Minh: The Missing Years 1919 – 1941 (Hồ Chí Minh: Những năm tháng bị lãng quên 1919 – 1941; có người dịch là Hồ Chí Minh: Những năm bị mất tích 1919 – 1941 hoặc Hồ Chí Minh: Những năm tháng chưa được biết đến 1919 – 1941) có điểm mạnh nhất là dựa trên rất nhiều tài liệu khai thác được từ nhiều nguồn lưu trữ, đặc biệt là lưu trữ tại Pháp và Nga. Tài liệu nhiều ở Pháp là vì Hồ Chí Minh đã có một thời gian sống và hoạt động yêu nước, cách mạng ở Pháp (gần 10 năm – không liên tục). Khối lượng tài liệu từ các báo cáo của mật thám Pháp theo dõi Nguyễn Ái Quốc khá nhiều và rất tỷ mỉ. Những tài liệu liên quan đến Hồ Chí Minh cũng có rất nhiều ở kho lưu trữ của Đảng Cộng sản Liên Xô (đặt tại thủ đô Mátxcơva), phông Quốc tế Cộng sản. Sau này, khi Liên Xô không còn thì kho lưu trữ đó được mở cửa rộng hơn cho bạn đọc; phông Quốc tế Cộng sản liên quan đến các tài liệu về Hồ Chí Minh được đặt tên mới là phông Lịch sử Chính trị-xã hội. Hồ Chí Minh đã hoạt động ở Liên Xô từ mùa hạ năm 1923 và gần một năm sau đó chính thức trở thành một cán bộ của Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản. Đảng Cộng sản Việt Nam là một phân bộ độc lập của Quốc tế Cộng sản từ tháng 4 năm 1931. Do đó, các báo cáo, thư từ, các tài liệu khác liên quan đến Đảng Cộng sản Việt Nam và liên quan đến Hồ Chí Minh được lưu trữ khá nhiều ở đấy. Hơn nữa, công tác lưu trữ ở Liên Xô có từ khá sớm, được bảo đảm tốt trên một cơ sở khoa học.

Tác giả của cuốn sách không những chủ yếu dựa vào tài liệu lưu trữ mà còn đối chiếu với nhiều tài liệu khác, trong đó có cả các sách, bài báo nghiên cứu của Việt Nam.

Công bằng mà nói, toàn bộ những tài liệu mà tác giả Sophie Quinn – Judge sử dụng, biểu lộ ra trong tác phẩm Ho Chi Minh: The Missing Years 1919 – 1941 theo tôi và nhiều người nghiên cứu Hồ Chí Minh ở Việt Nam thì không có gì mới. Không ít lần, trong khuôn khổ quan hệ giữa hai Đảng và hai Nhà nước của Liên Xô và Việt Nam, nhiều cán bộ của Việt Nam đã sang khai thác nguồn tài liệu này. Nhưng, trước đây, do cơ chế gần như “đóng” từ phía Liên Xô đã không cho phép các cán bộ Việt Nam khai thác được gì nhiều trong kho tư liệu đó. Không riêng gì đối với Việt Nam mà Liên Xô còn áp dụng chung cái cơ chế “đóng” này cho tất cả những ai đến khai thác tài liệu lưu trữ ở đây.

Liên Xô tan rã đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Một cơ chế “mở” đối với kho lưu trữ Quốc tế Cộng sản đã được thực thi. Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới (trong đó có bà Sophie Quinn – Judge) phần thì nhanh chân hơn, phần thì nhạy cảm thông tin hơn, phần thì nhiều tiền hơn đã đến kho lưu trữ Mátxcơva trước những cán bộ Việt Nam để khai thác những tài liệu, trong đó có những tài liệu về Hồ Chí Minh mà chưa từng được ai công bố.

Năm 1993, theo tôi được biết, có ít nhất hai đoàn Việt Nam sang khai thác những tài liệu liên quan đến Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh tại kho lưu trữ Mátxcơva. Một đoàn của Cục lưu trữ thuộc Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, một đoàn của Ban Chủ nhiệm Chương trình Khoa học và Công nghệ cấp nhà nước giai đoạn 1991-1995 Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, mã số KX.02 (Chương trình này do Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ quan chủ trì, Giáo sư Viện trưởng Đặng Xuân Kỳ làm Chủ nhiệm).

Năm 2006, trong một lần đến thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Hà Nội, ông S.V.Xtépashin (Tổng Kiểm toán Liên bang Nga) đã có ấn tượng rất sâu sắc về những tư liệu, hiện vật tại Bảo tàng. Theo đề nghị của S.V.Xtépashin, trong dịp Tuần lễ Cấp cao Diễn đàn châu Á – Thái Bình Dương (APEC) từ ngày 12 đến ngày 19-11-2006 ở Hà Nội và nhân đó thăm chính thức Việt Nam, Tổng thống Liên bang Nga Vlađimia Vlađimirôvích Putin đã trao cho Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết bộ phim tài liệu “Tên Người là Hồ Chí Minh”, nhiều bản sao tài liệu về Đảng Cộng sản Việt Nam và về Hồ Chí Minh từ kho lưu trữ của Liên bang Nga.

Gần đây nhất là vào năm 2006, Đoàn cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh thuộc Bộ Văn hoá – Thông tin Việt Nam (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) đã dành ra một tháng sang sưu tầm tài liệu tại Kho lưu trữ Lịch sử Chính trị-xã hội Liên bang Nga. Đoàn đã sưu tầm được khoảng 1000 trang tài liệu về Hồ Chí Minh. Đó là những bức thư, các bản báo cáo, bản thảo, bút tích, nhiều bài viết của Hồ Chí Minh những năm 1923 – 1952 chủ yếu bằng các thứ tiếng Pháp, Anh, Nga; những bài phát biểu của Hồ Chí Minh trên nhiều diễn đàn quốc tế; không ít giấy tờ cá nhân liên quan đến hoạt động của Hồ Chí Minh những năm 1922 – 1938 (thẻ dự các Đại hội Đảng Cộng sản Pháp, Đại hội Quốc tế Cộng sản, Đại hội Quốc tế Thanh niên, thị thực nhập cảnh nước Nga, hộ chiếu, một số bản khai lý lịch, v.v.). Có cả những đoạn phim tư liệu ghi dấu ấn của Hồ Chí Minh dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Hội nghị Quốc tế nông dân… Trong số những tài liệu sưu tầm được lần này, có cả những tài liệu đã có được từ những lần trước của những Đoàn sưu tầm các lần trước.

Nhưng, có tài liệu trong tay là một chuyện, còn bình luận về chúng, viết sách, viết bài nghiên cứu rồi công bố những tài liệu liên quan đến Hồ Chí Minh thì lại là một chuyện khác. Do nhiều nguyên nhân, các nhà Hồ Chí Minh học của Việt Nam không làm được cái việc như bà Sophie Quinn – Judge đã làm là đưa những vấn đề của Hồ Chí Minh trong những năm tháng còn ít được nhiều người biết đến 1919 – 1941 (phần được phản ánh trong tài liệu lưu trữ) lên từng trang giấy và cho xuất bản một cách công khai như trong cuốn sách này.

2.2. Tốt về cái tâm và một số nội dung nêu ra của người nghiên cứu

Đọc cuốn sách này, tôi thấy được phần nào cái tâm của tác giả Sophie Quinn – Judge, không như một số tác phẩm khác, nhất là các tác phẩm của một số người gốc Việt Nam với lời lẽ hằn học, chửi bới, bịa đặt, cố tình xuyên tạc Hồ Chí Minh (Gần đây nhất, những kẻ hằn học gốc Việt Nam ở ngoài nước do Nguyễn Hữu Lễ đứng đầu còn dựng phim DVD Sự thật về Hồ Chí Minh với dụng ý không tốt). Toàn bộ cuốn sách đã theo đúng lời tác giả viết: “Mục đích của nghiên cứu này không phải là để huỷ hoại thanh danh Hồ Chí Minh, mà chỉ là để làm rõ sự thực những gì ông đã làm trong thời kỳ ông làm việc cho Quốc tế III” (tr. 7 của bản dịch). Ở đây, tôi chưa bàn đến phương pháp nghiên cứu của bà Sophie Quinn – Judge và tôi không bàn đến tình cảm của người nghiên cứu đối với dân tộc, con người Việt Nam, trong đó có Hồ Chí Minh. Tác giả của cuốn sách đã cố gắng giữ một thái độ khách quan (cái đầu lạnh) khi trải những ý kiến của mình ra những trang viết. Đương nhiên, ở đây không phải là không có hạn chế mà tôi sẽ viết ở mục dưới.

Từ cái tâm đó cộng với nguồn tài liệu lưu trữ phong phú (nguồn chủ yếu) có đối chiếu với các nguồn khác, trong tác phẩm của mình, tác giả đã đúng khi nêu rõ những vấn đề sau đây của Hồ Chí Minh trong quãng thời gian từ năm 1919 đến năm 1941:

– Khẳng định Hồ Chí Minh[2] ra đi năm 1911 và hoạt động ở nước ngoài là vì mục đích yêu nước, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam. Đạt được kết quả như thế này trong nghiên cứu là phản ánh đúng sự thật và là đáng quý lắm, vì vẫn còn không ít người cho rằng, Hồ Chí Minh ra đi không phải là để tìm con đường cứu nước; rằng, Hồ Chí Minh đi theo con đường cách mạng vô sản, theo Quốc tế Cộng sản là vì ngẫu nhiên hoặc vì bất mãn khi bị bác  đơn vào học ở Trường Thuộc địa…

– Nêu lên được những sự kiện lịch sử qua đó phản ánh đúng một cách cơ bản và tương đối đầy đủ quãng đời đầy gian khổ, hoạt động tích cực của Hồ Chí Minh trong phong trào cộng sản, phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc quốc tế từ năm 1919 đến khi Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc đầu năm 1941.

– Nêu lên một bức tranh với những nét cơ bản, đúng sự thật về mối quan hệ của Hồ Chí Minh với Quốc tế Cộng sản (rõ nhất là trong quan hệ với các đồng chí ở Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản). Đây là mối quan hệ không mấy suôn sẻ, nhưng phản ánh được bản lĩnh, sự khéo léo của Hồ Chí Minh trong quãng thời gian đặc biệt trong cuộc đời của Hồ Chí Minh, nhất là quãng thời gian 1934 – 1938 mà trong một bức thư ký tên là Лин, gửi cho một đồng chí cấp cao của Quốc tế Cộng sản đề ngày 6-6-1938, Hồ Chí Minh gọi những năm đó là những năm Người ở vào “tình cảnh đau buồn”.

– Nêu lên được mối quan hệ giữa Hồ Chí Minh với các đồng chí trong tổ chức mà Hồ Chí Minh tham gia, qua đó người đọc cũng thấy được phần nào nhân cách cao đẹp của Hồ Chí Minh (đối với Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, đối với các đồng chí ở Pháp, ở Liên Xô và các nước khác, v.v.).

– Nêu lên các sự kiện, qua đó người đọc thấy rõ công lao và những đóng góp thực sự tích cực của Hồ Chí Minh trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930, các phong trào cách mạng ở Việt Nam và đối với một số phong trào cách mạng thế giới.

– Với các tài liệu có trong tay, tác phẩm này ken dày, ngồn ngộn những sự kiện lịch sử liên quan đến Hồ Chí Minh đã được phản ánh. Điều này là quan trọng và thật sự có giá trị đối với những người nghiên cứu để tham khảo. Trừ một số không nhiều những sự kiện còn chưa chính xác và một số sự kiện còn chưa chắc chắn, cần được xác minh thêm, còn tuyệt đại đa số các sự kiện được đưa vào cuốn sách là đáng tin cậy.

3. Một số hạn chế

3.1. Có một số nhận định không đúng

Hồ Chí Minh là người hoạt động bí mật nhiều năm trời, cho nên không phải những gì mà tài liệu phản ánh về Hồ Chí Minh đều đúng sự thật, mặc dù đó là những tài liệu báo cáo chính thức, tài liệu lưu trữ. Những tài liệu ở các kho lưu trữ thật đáng quý. Nhưng, dù chúng đáng quý như thế nào đi chăng nữa thì cũng cần được thẩm định, được nhận thức một cách đúng đắn qua tư duy của người nghiên cứu. Những tài liệu lưu trữ là những chứng cứ, song những chứng cứ ấy bao giờ cũng bị chế định bởi hoàn cảnh lịch sử và muôn vàn yếu tố khác nữa. Nó chưa hoàn toàn là sự thật. Do vậy, mới có tình trạng là tài liệu cùng một nguồn nhưng nhận thức, đánh giá của một số người lại trái ngược nhau.

Vì một số người, trong đó có tác giả cuốn sách này – bà Sophie Quinn – Judge – không đặt vào hoàn cảnh đó khi nghiên cứu, sa vào “khách quan phiệt”, cho nên mới dựa vào tài liệu báo cáo của Đại hội I Đảng Cộng sản Đông Dương và tài liệu lưu trữ ở Liên bang Nga để nhận định không đúng rằng, Hồ Chí Minh với Nguyễn Thị Minh Khai là vợ chồng (Trong hồ sơ tài liệu Đại hội I Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1935, có ghi Nguyễn Thị Minh Khai rồi mở ngoặc đơn là “Vợ Quốc”. Thực ra, nghiên cứu chung về hoàn cảnh lúc đó và theo lời kể của một số nhân chứng lịch sử, thì đây chỉ đơn thuần là một sự gán ghép, nhiều người muốn “làm mối” cho hai người. Giữa Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai đã sắp đi đến hôn nhân rồi mà những người dự Đại hội không biết. Cả Nguyễn Ái Quốc, Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai đều không dự Đại hội I ở Macao).

Cũng như thế, tác giả cuốn sách đã nhận định rằng: “Sự thực là mặc dù cuộc đời ông trong giai đoạn này đầy rẫy những sự nguy hiểm, thì một trong những công việc mà ông cũng thường xuyên phải làm là ngồi gõ thật nhiều các bản báo cáo với mục đích thuyết phục người Nga cung cấp thêm nhiều tiền cho các hoạt động của ông” (tr. 7 của bản dịch); “Việc thiếu tính không kiên định về lý tưởng mà một số người có thể cho là xảo quyệt là một đặc điểm đã giúp Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh sống sót trong những năm tháng ở Quốc tế Cộng sản” (tr. 34 của bản dịch), v.v.

Tác giả của cuốn sách nhận định không đúng về cái gọi là “chi nhánh của Đảng Cộng sản Trung Quốc” và cho rằng, tổ chức này “đã hiện hữu tại miền nam Việt Nam trong những năm 1927 – 1928. Vai trò của tổ chức này đối với sự phát triển của cộng sản Việt Nam vẫn chưa được tìm hiểu, nhưng căn cứ theo tên gọi của nó – Uỷ ban Nam Kỳ – Cambốt (trong bản dịch tiếng Việt Nam của Hoài An, có một số trang gọi là “Uỷ ban Nam Dương” – MQT lưu ý) – chúng ta có thể đoán được rằng, nó đã có ảnh hưởng ngay từ đầu trong việc đưa ra khái niệm của một phong trào cộng sản Đông Dương thống nhất chứ không phải là một Đảng Cộng sản Việt Nam thuần tuý” (Tổ chức này được bà Sophie Quinn – Judge viết ở nhiều trang, nhưng điển hình là ở tr. 182 của bản dịch). Sự thực là trong lịch sử hiện đại Việt Nam, không có tổ chức này. Tôi cho rằng, rất có thể là tác giả đã lầm tổ chức An Nam Cộng sản đảng ở Nam Kỳ lúc bấy giờ – có quan hệ với bộ phận An Nam Cộng sản đảng ở Trung Quốc – rồi cho rằng tổ chức này là chi nhánh của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Như vậy, tôi thấy đây là lầm lẫn lớn và rất tai hại đối với bạn đọc.

Có không ít những đoạn viết toát lên ý cho rằng Hồ Chí Minh là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải là nhà lý luận.

Những nhận định không chính xác trong cuốn sách, xét theo quan điểm của tôi, là không ít, đặc biệt là ở phần Tổng kết. Phần này ngắn, chỉ hơn 4 trang trong tổng số 186 trang của bản dịch, nhưng ken dày những nhận định không đúng.

Xin nêu một số đoạn.

Tác giả viết: “Sự thất bại trong chiến dịch của người Việt tại Hội nghị hoà bình Pari năm 1919 đã chuyển sự chú ý của những người quốc gia về phía nước Nga” (tr. 182 của bản dịch); “Những mâu thuẫn ban đầu về hệ tư tưởng bên trong tổ chức cộng sản Việt Nam đã tiếp tục diễn ra trong suốt sự nghiệp chính trị của Hồ. Trong khi đối với phương Tây, những nỗ lực của Hồ sau Thế chiến thứ hai nhằm tạo ra hình ảnh của mình như một người theo chủ nghĩa quốc gia đã gặp phải những nghi ngờ thì bên trong nội bộ Đảng Cộng sản Đông Dương thái độ thiếu thành tâm với “chủ nghĩa cộng sản vô sản” đã tiếp tục bị xem như là một nhược điểm của ông” (tr. 183 của bản dịch).

Ở đây, tác giả của cuốn sách này lại dựa vào những tài liệu do Trần Ngọc Danh viết, mà Trần Ngọc Danh là người như thế nào thì những người nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đều biết khá rõ.

Tác giả viết tiếp: Hồ Chí Minh “đã ăn ở với những phụ nữ trong nhiều giai đoạn, thoả hiệp và lũng đoạn những đảng phái quốc gia khác. Ông đã không luôn là người thẳng thắn. Trong rất nhiều trường hợp, ông đã cho rằng, thành thật về lập trường chính trị là một việc dại dột. Lòng tin của ông về chủ nghĩa cộng sản thì khó mà lường được bao sâu” (tr. 185 của bản dịch); “Điều trớ trêu là trong những năm 1990, sau khi những đảng cộng sản tại Đông Âu đã bị hất khỏi quyền lực, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ nguyên vị trí chính thống của mình bằng cách nhận rằng, họ đại diện cho “Tư tưởng Hồ Chí Minh”. Một tài liệu xuất bản năm 1995 về Tư tưởng Hồ Chí Minh của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh định nghĩa đấy như là một tiến triển mới của học thuyết Mác – Lênin. Nhưng khẳng định này đã gặp phải một số ý kiến diễu cợt vì rất nhiều người Việt Nam thừa hiểu rằng Hồ Chí Minh đã không để lại bất cứ một học thuyết nào trên giấy tờ” (tr. 185 của bản dịch).

Vân vân và vân vân.

3.2. Vẫn còn nhiều “khoảng trống”, còn có sự phân tích chưa sâu, chưa đủ minh chứng lịch sử

Có nhiều vấn đề chưa được tác giả cuốn sách tập trung phân tích kỹ, phân tích sâu. Những vấn đề đó, theo tôi, là những điểm nhấn trong cuộc đời của Hồ Chí Minh trong những năm hoạt động ở Quốc tế Cộng sản. Đó là những sự kiện mà Hồ Chí Minh đã chứng tỏ tài năng và bản lĩnh chính trị của mình, đặc biệt là hoạt động của Hồ Chí Minh trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và tích cực chuẩn bị về mặt tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam; phân tích những quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam so với những quan điểm sai lầm, tả khuynh, biệt phái có tính chất chỉ đạo của Nghị quyết Đại hội VI Quốc tế Cộng sản cuối năm 1928 đối với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, trong đó có những văn bản chỉ đạo cụ thể đối với cách mạng Việt Nam, v.v.

Tác giả của cuốn sách, như tôi đã đề cập ở trên, chủ yếu dựa vào tài liệu lưu trữ, triệt để dùng phương pháp mà tôi tạm gọi là “khách quan phiệt” (hay chủ nghĩa khách quan), ngoài mặt tốt, còn có mặt thứ hai của nó là chưa hiểu rõ bề sâu văn hoá, đặc tính con người, đặc biệt là con người Hồ Chí Minh, con người đặt trong muôn vàn cái chế định của hoàn cảnh lịch sử cụ thể, trong hoàn cảnh hoạt động bí mật, con người phương Đông, con người Việt Nam, do đó có một số hạn chế vừa chưa “lấp đầy” khoảng trống để hiểu cuộc đời Hồ Chí Minh vừa có lập luận chưa có sức thuyết phục về một số sự kiện có liên quan đến đời tư của Hồ Chí Minh, đặc biệt là đối với hai người phụ nữ mà tác giả cuốn sách cho là vợ của Hồ Chí Minh: Tăng Tuyết Minh, Nguyễn Thị Minh Khai.

Nhân dịp bày tỏ ý kiến về cuốn sách Ho Chi Minh: The Missing Years 1914 – 1941 của tác giả Sophie Quinn – Judge, tôi muốn đề cập thêm về vấn đề này. Hiện đang có một số người có thể do vô tình hay cố ý, “gây nhiễu thông tin” về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh[3]. Hồ Chí Minh có vợ có con hay không là câu chuyện bị gây nhiễu nhiều nhất.

Ngày 3-11-1946, ông Nguyễn Sinh Khiêm, anh trai của Hồ Chí Minh đến thăm em, nhân lúc vui vẻ có hỏi em mình: “Tôi muốn hỏi riêng chú, việc gia đình riêng của chú ra sao?”. Hồ Chí Minh trả lời hóm hỉnh: “Cảm ơn anh, em chưa bao giờ dám nghĩ đến việc này, đến nay đã tu, tu trót, qua thì thì thôi. Em không phải là người tu hành nhưng vì việc nước quên việc nhà”[4].

Tháng 1 năm 1947, Hồ Chí Minh viết trong bức thư­ chia buồn khi được tin con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng, người theo đạo Thiên Chúa, oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nư­ớc Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam. Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc”[5].

Ngày 16-7-1947, trả lời câu hỏi thứ mư­ời của một nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh nói: “Ngài đã hỏi, tôi xin dẹp sự khiêm tốn lại một bên mà đáp một cách thực thà: tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi. Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi. Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất, dân chủ. Bao giờ đạt đư­ợc mục đích đó, tôi sẽ trở về làm một người công dân du sơn ngoạn thủy, đọc sách làm vườn”[6].

Năm 1948, cũng trong thời kháng Pháp, trong cơ quan Phủ Chủ tịch ở chiến khu Việt Bắc, Hồ Chí Minh là người hay khơi các trò chơi sau giờ làm việc. Có khi đó là một buổi tối lửa trại, tự diễn tuồng, chèo, kịch tại chỗ, có cả hoạt náo viên, có khi là họa thơ, đối thơ, v.v. Trong những buổi vui vẻ như vậy, nhiều người đề nghị Hồ Chí Minh lấy vợ. Có lần Hồ Chí Minh nói: “Các chú hỏi bao giờ Bác lấy vợ, phải không? Có hỏi thì có trả lời nhé: Không lâu nữa đâu! Bao giờ dân ta toàn thắng, Bắc – Nam sum họp một nhà!”[7]. Còn Phan Anh, khi thấy sức khoẻ của Hồ Chí Minh có phần giảm sút trong những ngày gian khổ tại An toàn khu (ATK) năm 1948 lúc Hồ Chí Minh 58 tuổi, có đề nghị Hồ Chí Minh lập gia đình để có người thân thương hằng ngày săn sóc, thì Hồ Chí Minh thủng thẳng nói: “Ông bảo thế tôi không phải là con người à? Tôi sống như mọi người mà. Có phải thần, thánh gì đâu Nhưng ông thấy đấy: việc nước bề bộn như vậy!”[8].

Người ta có quyền không tin những điều trên đây do chính bản thân Hồ Chí Minh viết và nói. Nhưng, ai và những tài liệu nào xác đáng để chứng minh rằng Hồ Chí Minh có vợ, có con? Chưa, chưa có tài liệu nào thuyết phục người đọc được cả.

Tôi bày tỏ quan điểm của tôi rằng: việc Hồ Chí Minh có vợ, có con hay không có vợ, không có con thì chẳng ảnh hưởng gì đến tư cách, đạo đức cả. Nếu Hồ Chí Minh có vợ, có con, nghĩa là có gia đình riêng, thì với những gì Hồ Chí Minh đã cống hiến cho đất nước, tôi vẫn nhận định được rằng: Hồ Chí Minh đã hy sinh lợi ích riêng tư để dâng hiến cho Tổ quốc của mình. Không phải không có vợ con mới là hy sinh chuyện riêng tư. Chỉ có điều là nếu Hồ Chí Minh có vợ thì đấy mới là chính là một con người hoàn chỉnh, không phải là phản tự nhiên. Cũng chính vì thế mà chúng ta hay nói người vợ hay người chồng chính là một nửa bên kia của nhau. Hồ Chí Minh cũng không ít lần nói về cái khiếm khuyết của chính cuộc đời mình, và một trong những khiếm khuyết đó là không có vợ; do vậy có lúc Hồ Chí Minh khuyên thanh niên Việt Nam đừng nên học mình về điều đó.

Nếu Hồ Chí Minh có vợ con thật thì Hồ Chí Minh không thể giấu được trong ngần ấy năm. Giấu làm sao được trong con mắt của hàng triệu, hàng triệu con người giữa thế gian, ở đất nước Việt Nam và cả ở trên thế giới. Người bình thường đã khó giấu, huống hồ Hồ Chí Minh lại là một người nổi tiếng, Hồ Chí Minh là con người của công chúng, thì lại càng khó giấu hơn. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Cái kim trong bọc lâu ngày rồi sẽ lòi ra”. Đã rất lâu ngày, nhưng cái bọc không thấy lòi ra một cái kim nào cả.

Đã có không ít người cho rằng, Hồ Chí Minh có một người vợ là người Pháp, một là người Đức, một là người Nga, hai bà là người Trung Quốc, hai người vợ Việt Nam, v.v. Và, đương nhiên câu chuyện và danh sách vợ con của Hồ Chí Minh, theo họ, chưa dừng lại ở đó. Ngay cả ông Hoàng Tranh (người Trung Quốc), một chuyên gia nghiên cứu Hồ Chí Minh trong mối quan hệ với Trung Quốc, trong một bài viết của mình, đã đề cập về cuộc sống vợ chồng Hồ Chí Minh – Tăng Tuyết Minh, nhưng tôi đã đọc rất kỹ bài viết này thì thấy rằng, lập luận và những chứng cớ mà Hoàng Tranh nêu ra không có sức thuyết phục. Mấy cuốn sách, bài báo của một số người ngoài nước chẳng rõ thật hư ra sao về vấn đề này, lại viết theo Hoàng Tranh.

Hồ Chí Minh là người hoạt động bí mật nhiều năm trời, cho nên không phải những gì mà tài liệu viết về Hồ Chí Minh đều là đúng sự thật, mặc dù đó là những tài liệu báo cáo chính thức, tài liệu lưu trữ trong kho lưu trữ Lịch sử Chính trị-xã hội của Liên bang Nga. Vì một số người không đặt vào hoàn cảnh đó khi nghiên cứu, cho nên mới dựa vào tài liệu báo cáo của Đại hội I Đảng Cộng sản Đông Dương và tài liệu lưu trữ ở Liên bang Nga để nhận định không đúng rằng, Hồ Chí Minh với Nguyễn Thị Minh Khai là vợ chồng.

Đấy là chưa kể có những người cố tình xuyên tạc, thêu dệt ly kỳ mặt “tình ái” của Hồ Chí Minh với mục đích bôi xấu, cho rằng Hồ Chí Minh  chính là người bội bạc; rằng không phải Hồ Chí Minh là người đấu tranh giải phóng con người, đặc biệt là đấu tranh giải phóng phụ nữ, mà Hồ Chí Minh chỉ coi phụ nữ chỉ là đồ chơi; rằng, Hồ Chí Minh là con người nói dối, v.v. Tôi nghĩ rằng, nếu Hồ Chí Minh có đến 7 bà vợ và nhiều con như thế thì khi Việt Nam đang có chiến tranh ác liệt như vậy thì nhiều bà vợ chưa đến đất nước chồng mình đã đành, nhưng khi Việt Nam đã hoà bình rồi, khi Hồ Chí Minh đã nằm yên bình trong Lăng ở Ba Đình – Hà Nội rồi nhưng vẫn không có bà vợ nào (nếu còn sống), con cái nào của Hồ Chí Minh đến thăm. Thật sự không có. Tăng Tuyết Minh chỉ là một người phụ nữ đóng giả vợ của Hồ Chí Minh khi Hồ Chí Minh hoạt động ở Trung Quốc quãng thời gian cuối năm 1924 – 1927 mà thôi.

Tuy tác giả Sophie Quinn – Judge, như tôi đã viết ở trên, chỉ đề cập thoáng qua hai người “vợ” của Hồ Chí Minh trong tác phẩm Ho Chi Minh: The Missing Years 1914 – 1941, đối với tâm lý của người nước khác, đặc biệt là người châu Âu thì không có vấn đề gì lớn, nhưng điều này đối với tâm lý người Việt Nam là quá nhạy cảm, cho nên tôi xin đôi điều đề cập lại cho rõ hơn mà thôi.

Cuốn sách Ho Chi Minh: The Missing Years 1914 – 1941 của tác giả Sophie Quinn – Judge thực sự bổ ích cho những ai quan tâm nghiên cứu Hồ Chí Minh, đặc biệt là đối với những học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Hồ Chí Minh học ở Việt Nam.

Những ý kiến của tôi trên đây về cuốn sách có thể đúng, có thể không đúng, nhưng tôi cứ mạnh dạn nêu lên, mong được thông cảm.

Hà Nội, ngày 24 tháng 10 năm 2009

Người viết

MẠCH QUANG THẮNG


[1] Trong Chương 0 của cuốn sách này với cái tên là Giới thiệu, tác giả Sophie Quinn-Judge viết: “Ông Hồ thực sự không có cuộc sống của nhà tu hành, ông có hai mối quan hệ với phụ nữ được chứng minh bằng các tài liệu chúng tôi tìm được trong khoảng thời gian hoạt động mà cuốn sách này đề cập đến”. Bà Sophie Quinn-Judge viết chú thích số 24 cho rõ thêm đoạn nội dung này như sau: “Người phụ nữ thứ nhất là “Tuyết Minh”, một cô gái sinh viên hộ lý người Quảng Châu, người bắt đầu cuộc sống vợ chồng với Hồ Chí Minh từ tháng 10 năm 1926. Bà không được đề cập trong Chương ba của cuốn sách này vì mối quan hệ đã chấm dứt ngay khi Hồ Chí Minh trốn khỏi Trung Quốc năm 1927 (Xem AOM, SPCE 367, Renseignements fournis par Lesquendieu au sujet de Tuyet Minh, femme chinoise, maitresse de Nguyen Ai Quoc, Hanoi, 28/10/1931). Người phụ nữ thứ hai là Nguyễn Thị Minh Khai, có tầm quan trọng chính trị lớn hơn người trước”.

 

[2] Hồ Chí Minh có nhiều tên gọi. Trong bài này, để cho thuận tiện, tôi xin dùng một tên chung cho tất cả các thời kỳ, giai đoạn là Hồ Chí Minh.

[3] Năm 2005, có một đồng nghiệp ở Ban Tư tưởng-Văn hoá Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng) nói với tôi rằng, trên mạng internet có rất nhiều bài viết xuyên tạc cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Tôi nói lại rằng, việc xuyên tạc cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh không phải đến bây giờ người ta mới làm, mà đã diễn ra từ lâu rồi.

Để làm cho người ta hiểu một cách đúng đắn về Hồ Chí Minh, tôi nói với đồng nghiệp của tôi rằng, cách tốt nhất là nên xuất bản cuốn sách viết về tiểu sử Hồ Chí Minh.

Tôi biết rằng, vào các năm 1995, 1996, Chương trình khoa học cấp nhà nước giai đoạn 1991 – 1995 KX.02 “Nghiên cứu Hồ Chí Minh” do Giáo sư Đặng Xuân Kỳ lúc đó là Viện trưởng Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm Chủ nhiệm đã có một đề tài nghiên cứu, biên soạn tiểu sử Hồ Chí Minh do Giáo sư Song Thành làm Chủ nhiệm. Sản phẩm chính của đề tài này là bản “Hồ Chí Minh – Tiểu sử” đã được nghiệm thu; nhưng vì nhiều lý do, mãi cho tới lúc đó, năm 2005, chưa được xuất bản.

Ý kiến của tôi là như vậy. Sau đó một thời gian, Ban Tư tưởng-Văn hoá Trung ương đề nghị Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khoá IX cho thẩm định lại bản thảo công trình này để xuất bản thành sách. Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khoá IX giao cho Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (nay là Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) cùng với Ban Tư tưởng-Văn hoá Trung ương giải quyết vấn đề này. Sở dĩ như vậy là vì đây là công trình khoa học thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh quản lý mà Viện này sau đó đã sáp nhập cùng Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thành Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Theo đề nghị của Ban Tư tưởng-Văn hoá Trung ương và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, ngày 19-1-2006, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khoá IX đã ra Quyết định số 156-QĐ/TW thành lập Hội đồng thẩm định và xuất bản tác phẩm “Hồ Chí Minh – Tiểu sử”.

Cuốn sách “Hồ Chí Minh – Tiểu sử” do Nhà xuất bản Lý luận chính trị (nay là Nhà xuất bản Chính trị – Hành chính) xuất bản đầu tiên theo Giấy phép xuất bản số 48-2006/CXB 01-01/LLCT ngày 12-1-2006 với số lượng 3 000 cuốn, 758 trang khổ 15 cm x 22 cm, bìa cứng, nộp lưu chiểu tháng 4 năm 2006. Đây là cuốn sách mới nhất về tiểu sử Hồ Chí Minh được viết một cách công phu, tương đối chi tiết tiếp nối cuốn tiểu sử tóm tắt về Hồ Chí Minh trước đây do Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương biên soạn và được Nhà xuất bản Sự Thật xuất bản lần đầu tiên năm 1970.

[4] Theo Bá Ngọc, Trần Minh Siêu: Chuyện kể bên mộ bà Hoàng Thị Loan, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2007, tr. 74.

[5] Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 40.

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 171-172.

[7] Theo Vũ Đình Hoè: Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh, Nxb Văn hoá Thông tin, Trung tâm Văn hoá Đông Tây, Hà Nội, 2001, tr. 151.

[8] Như trên.

Xem thêm…

Nghị quyết của UNESCO về Chủ tịch Hồ Chí Minh (năm 1987)

20:38 |
Xem thêm…

[Video bài giảng] Bài 1: Cơ sở, Quá trình hình thành và pháp triển Tư Tưởng Hồ Chí Minh

20:32 |

Xin trân trọng giới thiệu video bài giảng của th.s Nguyễn Thị Bích Thủy về Bài 1: Cơ sở, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh!

Nguồn: Youtube/videohoctap
Xem thêm…

Tại sao Hồ Chí Minh sang Liên Xô những năm 1923-1924?

03:28 |
Đồng chí Nguyễn Ái Quốc với một số đại biểu dự Đại Hội Quốc Tế Cộng



Với cương vị là cán bộ của Quốc tế Cộng sản, có ba quãng thời gian tiêu biểu nhất Hồ Chí Minh* hoạt động ở Liên Xô, tức là hoạt động ngay tại trụ sở của Quốc tế Cộng sản: 1. Từ mùa hè năm 1923 đến cuối năm 1924; 2. Năm 1927; 3. Từ năm 1934 đến cuối năm 1938.
Thời gian có phần đắc chí nhất của Hồ Chí Minh trong những năm hoạt động ở Quốc tế Cộng sản không dài, từ mùa hè năm 1923 đến cuối năm 1924, tức là thời gian kể từ khi Người tạm biệt các đồng chí của mình ở Đảng Cộng sản Pháp để bí mật đến Liên Xô theo sự điều động, phân công của Đảng Cộng sản Pháp và của Quốc tế Cộng sản vào hoạt động trong bộ máy của Quốc tế Cộng sản, làm cán bộ của Ban Phương Đông rồi cuối năm 1924 đến hoạt động ở Trung Quốc cũng như một số nước châu Á khác.
Thật ra thì, dần dà, với thái độ nhiệt thành và có khi ứng xử, phát biểu hơi gay gắt của Hồ Chí Minh, cho nên đến thời gian cuối năm 1924, Hồ Chí Minh cũng biểu lộ mình là người “không hợp gu” với Quốc tế Cộng sản.Từ mùa hè năm 1923, Hồ Chí Minh đến Liên Xô, nhưng mãi đến tháng 12 năm đó, Người mới được chứng nhận tạm thời thuộc biên chế Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản và rồi mãi đến ngày 14-4 năm sau (năm 1924), Người mới được đồng chí Pêtơrốp, Trưởng Ban Phương Đông, ký nhận chính thức làm cán bộ của Ban.
Phải nói là ở Hồ Chí Minh có một tư chất đặc biệt nào đó tương thích với yêu cầu của Quốc tế Cộng sản cho nên mới được Quốc tế Cộng sản chú ý để điều động đến hoạt động ở môi trường rộng lớn hơn, với chức nhiệm của một người giúp cho Quốc tế Cộng sản về vấn đề dân tộc và thuộc địa ở tầm quốc tế chứ không chỉ bó hẹp trong bản thân Đảng Cộng sản Pháp.
Mà quả thật như thế. Sau Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp ở thành phố Tua cuối tháng 12 năm 1920, Hồ Chí Minh cùng với hơn 3208 đại biểu bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản (1022 phiếu chống); và sau đó, lúc 2 giờ 30 phút sáng ngày 30-12-1920, cùng với các đại biểu đó tuyên bố thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản (Section Francaise de L’ Internationale Communiste, viết tắt là S.F.I.C.). Với hoạt động của Hồ Chí Minh tại Đại hội Tua, đến năm 1970, tại Đại hội XIX, Đảng Cộng sản Pháp đã đánh giá rằng, Hồ Chí Minh chính là một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản năm 1920 và là người tích cực giúp cho Đảng Cộng sản Pháp đi theo một đường lối rõ rệt chống chủ nghĩa thực dân.
Hồ Chí Minh càng hoạt động tích cực hơn thúc đẩy mạnh mẽ, tạo lập một xu hướng đấu tranh về lý luận, tư tưởng, tổ chức cho sự nghiệp giải phóng các dân tộc theo con đường cách mạng vô sản.
Trước hết, Hồ Chí Minh dũng cảm và tích cực tố cáo chủ nghĩa thực dân. Bây giờ nhìn nhận lại vấn đề chủ nghĩa thực dân thì nhiều người dễ nhất trí đánh giá rằng, chủ nghĩa thực dân là vết nhơ lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Nhưng trong những năm đầu thế kỷ XX, nhận thức về vấn đề này không đơn giản. Thực ra, cho đến những năm 20 của thế kỷ XX ở Pháp, người ta vẫn cố tình hiểu không đúng vấn đề đó. Dưới con mắt của nhiều người châu Âu, nhất là ở Pháp trong cuối thế kỷ XIX và cả phần lớn thế kỷ XX, nhiều người vẫn coi việc Pháp đưa quân đội và công chức ra nước ngoài, đi xâm lược, chiếm đóng, biến những nước đó thành thuộc địa của mình như là để thực hiện “sứ mệnh khai hoá văn minh”.
Hồ Chí Minh là người đã tận dụng tất cả mọi diễn đàn có thể tận dụng được để lột trần bản chất của cái gọi là sự “khai hoá văn minh” đó. Sau khi đã trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Pháp do giác ngộ một cách sâu sắc tư tưởng của V.I. Lênin về vấn đề giải phóng dân tộc theo con đường của cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh càng tích cực tố cáo chủ nghĩa thực dân.
Sau năm 1920, Hồ Chí Minh có điều kiện thuận lợi nhất để làm việc này khi trực tiếp đóng góp ý kiến cho Đảng Cộng sản Pháp. Trên diễn đàn của báo L’ Humanité (Nhân đạo) ngày 25-5-1922, Hồ Chí Minh nêu lên những khó khăn chủ yếu của Đảng Cộng sản Pháp khi giải quyết vấn đề thuộc địa, trong đó có khó khăn do “tình trạng thờ ơ của giai cấp vô sản chính quốc đối với các thuộc địa”, rằng, “tiếc thay, một số đông chiến sĩ vẫn còn tưởng rằng, một thuộc địa chẳng qua chỉ là một xứ dưới đầy cát và trên là mặt trời, vài cây dừa xanh với mấy người khác màu da, thế thôi. Và họ hoàn toàn không để ý gì đến”[1].
Trong quãng thời gian đó, Hồ Chí Minh phát biểu nhiều lần tại các cuộc sinh hoạt của Đảng Cộng sản Pháp, tại các câu lạc bộ tuyên truyền chống chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh cả những người dân thuộc địa, vì nhiều lý do, đang có mặt tại Pháp. Hồ Chí Minh vào các thư viện để đọc, sưu tầm, ghi chép nhiều tài liệu liên quan đến tội ác thực dân do chính những tên thực dân viết rồi tung ra các diễn đàn (cả viết bài báo, sách, cả diễn thuyết) với cách “gậy ông đập lưng ông”.
Hồ Chí Minh sử dụng các diễn đàn báo chí để đăng những bài báo sắc sảo mà Người lấy số liệu và các thông tin khác từ chính ngay ở Pháp để tố cáo chủ nghĩa thực dân. Tên tác giả Nguyễn Ái Quốc về loại bài này đã xuất hiện nhiều và đều đặn trên các báo La Revue Communiste, Inprecorr, L’ Humanité, Le Paria, La Vie Ouvrière, Le Journal du Peule, Le Libertaire, v.v.
Hồ Chí Minh viết báo với bút pháp đặc biệt, đưa ra những hình ảnh rất sắc. Chẳng hạn, Người viết: Nền công lý của thực dân Pháp được tượng trưng như một bà đầm, một tay cầm quả cân, một tay cầm thanh kiếm. Vì đường từ Pháp sang Đông Dương xa quá, xa đến nỗi bà đầm công lý sang đến được Đông Dương thì quả cân đã chảy lỏng ra thành thuốc phiện và rượu ty. Bà còn lại độc một cái kiếm và thế là bà tha hồ chém giết những người vô tội.
Mục tiêu cuối cùng và cao cả nhất trong cả cuộc đời của Hồ Chí Minh là giải phóng con người trên toàn nhân loại. Hồ Chí Minh  mô tả tỷ mỉ, cụ thể trong các bài báo của mình về tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp, và Người đau nỗi đau nhân thế. Hồ Chí Minh viết đoạn cuối của một bài báo sau khi đã tả lại tội ác của bọn thực dân: “Khi chép đến đoạn này, tôi run lên, mắt mờ lệ, nước mắt chảy xuống hoà với mực. Tôi không thể nào viết được nữa. Ôi! nước Pháp đau khổ! Đông Tây đau khổ! Nhân loại đau khổ!”[2].
Hồ Chí Minh đã phê bình một cách quyết liệt, gay gắt tính không triệt để và không kiên quyết của Đảng Cộng sản Pháp đối với vấn đề thuộc địa. Khi trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Pháp và khi còn ở Pháp đến mùa hè năm 1923, Hồ Chí Minh đã kiến nghị, góp ý cho Trung ương Đảng Cộng sản Pháp ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa do Pháp chiếm đóng, đặc biệt là đối với Đông Dương. Sự phê bình này còn tiếp diễn cả thời kỳ Hồ Chí Minh đã hoạt động trong bộ máy của của Quốc tế Cộng sản.
Hồ Chí Minh đã phê bình Đảng Cộng sản Pháp không thực hiện một cách tích cực những nghị quyết của Đại hội II Quốc tế Cộng sản, trong đó thể hiện những quan điểm của V.I. Lênin nêu trong Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa. Hồ Chí Minh phê bình với những từ ngữ, lời lẽ mà nghe ra rất “đanh”: những nghị quyết của Đảng Cộng sản Pháp về vấn đề dân tộc và thuộc địa “chỉ được dùng để tô điểm mặt giấy”[3].
Theo sáng kiến của Hồ Chí Minh, từ năm 1921, báo L’ Humanité của Đảng Cộng sản Pháp đã mở một chuyên mục Diễn đàn của các thuộc địa. Nhưng, chẳng bao lâu sau, chuyên mục này đã bị bỏ. Hồ Chí Minh nói rõ quan điểm của mình: “Thật là không thích đáng nếu cứ lắp đi lắp lại mãi một điều mà không làm gì cả. Và những người bị áp bức khốn khổ thấy chúng ta chỉ luôn luôn hứa hẹn nhưng cũng luôn luôn không hành động gì thì bắt đầu tự hỏi rằng không biết thực ra chúng ta là những người đứng đắn hay là những kẻ lừa phỉnh”[4]. Tháng 7-1923, từ Mátxcơva, Hồ Chí Minh  viết thư cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đề nghị mở lại chuyên mục viết về thuộc địa trong báo L’Humanité và trong tất cả các báo chí của Đảng Cộng sản Pháp, đề cập vấn đề thuộc địa “trong hết thảy các đại hội, mít tinh hoặc hội nghị của Đảng”[5], “cử các nghị sĩ đi thăm các thuộc địa”[6], v.v. Những đề nghị trên đây của Hồ Chí Minh không được Đảng Cộng sản Pháp chấp nhận.
Có lẽ như vậy và vì như vậy, đặc phái viên của Quốc tế Cộng sản trong nhiều chuyến công cán tại Pháp đã “phát hiện” ở người thanh niên thư sinh, gầy gò, mảnh khảnh Nguyễn Ái Quốc cái tư chất rất đặc biệt, và chính đó là mẫu hình cán bộ mà Quốc tế Cộng sản đang cần. Bà Clara Xétkin (Clara Zetkin), người nữ cộng sản nổi tiếng của Đức, Uỷ viên Ban Thường vụ Quốc tế Cộng sản, đã được Quốc tế Cộng sản cử sang Pháp dự Đại hội Tua, đã nhiều lần gặp gỡ, trao đổi ý kiến với Nguyễn Ái Quốc, sau đó bà là người luôn theo dõi, để ý đến Người. Chắc chắn rằng, việc mùa hè năm 1923 Hồ Chí Minh bí mật sang Liên Xô bằng tàu hỏa, rồi sau đó lên tàu Các Lípnếch của Liên Xô khởi hành từ cảng Hămbuốc của Đức đi Pêtơrôgát chính là do sự giới thiệu của bà Clara Xétkin trên cơ sở thỏa thuận với Đảng Cộng sản Pháp. Với tầm hoạt động và sự năng động của mình, ngay hồi còn ở Pháp, Hồ Chí Minh đã quen biết với rất nhiều người, từ các chính khách, các nhà hoạt động chính trị nổi tiếng, những văn nghệ sĩ có tên tuổi, đến những người ở các nước thuộc địa, phụ thuộc đang sống và hoạt động tại đấy.
Đến hoạt động tại trụ sở Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh tiếp tục phát huy năng lực, sở trường của mình trong vấn đề chống chủ nghĩa thực dân. Ngay tại Phiên họp lần thứ 8 của Đại hội V Quốc tế Cộng sản, sáng 23-6-1924, Hồ Chí Minh đã phát biểu có lý về vai trò quan trọng của cách mạng ở nước thuộc địa trong quan hệ với cách mạng ở “chính quốc” rằng: “Tôi phát biểu ở đây để lưu ý Quốc tế Cộng sản đến một sự thật là: Thuộc địa vẫn đang tồn tại, và vạch ra để Quốc tế Cộng sản thấy rằng: Cách mạng, ngoài vấn đề tương lai của các thuộc địa, còn có cả nguy cơ của các thuộc địa. Song tôi thấy rằng, hình như các đồng chí chưa hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa…Vì vậy, muốn đánh bại các nước này, trước hết chúng ta phải tước thuộc địa của nó đi”[7].
Tại Phiên họp đó, Hồ Chí Minh còn nói: “Tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, sẽ gợi ra những vấn đề và nếu cần tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa…Các thuộc địa trở thành nền tảng của các lực lượng phản cách mạng. Thế mà các đồng chí khi nói về cách mạng, các đồng chí lại khinh thường thuộc địa…Tại sao các đồng chí lại xem thường thuộc địa trong lúc chủ nghĩa tư bản lại dựa vào nó để tự bảo vệ và chống lại các đồng chí?…Bàn về khả năng và các biện pháp thực hiện cách mạng…các đồng chí Anh và Pháp cũng như các đồng chí ở các đảng khác hoàn toàn bỏ qua luận điểm cực kỳ quan trọng có tính chiến lược này. Chính vì thế, tôi hết sức kêu gọi các đồng chí: Hãy chú ý”[8].
Tại một diễn đàn tại Phiên họp lần thứ 22 Đại hội đó, ngày 1-7-1924, với tư cách là một đảng viên của Đảng Cộng sản Pháp, và nhân danh một người ở dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh phát biểu để “bổ sung những ý kiến phê bình của đồng chí Manuinxki về chính sách của chúng ta trong vấn đề thuộc địa”. Hồ Chí Minh phê bình cả Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Cộng sản Anh và đảng cộng sản một số nước chưa quan tâm đến cách mạng ở các thuộc địa: “Sẽ không phải là quá đáng nếu nói rằng chừng nào Đảng Pháp và Đảng Anh chúng ta chưa thi hành một chính sách thật tích cực trong vấn đề thuộc địa, thậm chí chưa đề cập đến quần chúng các thuộc địa, thì toàn bộ chương trình rộng lớn của hai đảng đó vẫn không có hiệu quả gì. Chương trình ấy sẽ không có hiệu quả gì vì nó trái với chủ nghĩa Lênin”[9].
Hồ Chí Minh phát biểu tiếp: “Còn các đảng cộng sản của chúng ta như Đảng Cộng sản Anh, Hà Lan, Bỉ và các đảng cộng sản các nước khác mà giai cấp tư sản ở đấy chiếm giữ thuộc địa, thì đã làm những gì? Các đảng này, từ khi chấp nhận bản Luận cương của Lênin, đã làm được những gì để giáo dục cho giai cấp công nhân nước mình tinh thần quốc tế chủ nghĩa chân chính, tinh thần gần gũi với quần chúng lao động các nước thuộc địa? Tất cả những việc mà các đảng của chúng ta đã làm về mặt này, thật hầu như chưa có gì cả. Còn về tôi, là một người sinh trưởng ở một nước hiện nay là thuộc địa của Pháp và là một đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, tôi lấy làm tiếc phải nói rằng Đảng Cộng sản Pháp chúng tôi làm rất ít cho các nước thuộc địa”[10]. Hồ Chí Minh phát biểu một cách gay gắt, với khẩu khí thật mạnh và đưa ra những đề nghị rất cụ thể: “Vậy phải hành động thực tiễn như thế nào? Đề ra những luận cương dài dằng dặc và thông qua những nghị quyết rất kêu để sau Đại hội đưa vào viện bảo tàng như từ trước vẫn làm thì chưa đủ. Chúng ta cần có biện pháp cụ thể. Tôi đề nghị mấy điểm dưới đây:
1. Mở trên báo L’Humanité một mục để đăng đều đặn hằng tuần ít nhất hai cột các bài về vấn đề thuộc địa.
2. Tăng cường tuyên truyền và tuyển lựa đảng viên của Đảng trong những người bản xứ ở những nước thuộc địa đã có phân bộ cộng sản.
3. Gửi những người bản xứ vào Trường đại học cộng sản của những người lao động phương Đông ở Matxcơva.
4. Thoả thuận với Tổng Liên đoàn lao động thống nhất để tổ chức những người lao động của các thuộc địa làm việc ở Pháp.
5. Đặt nhiệm vụ cho các đảng viên của Đảng phải quan tâm hơn nữa đến vấn đề thuộc địa”[11].
Trong một bức thư đề ngày 11-4-1924 gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh nêu nhận xét của mình: “Những thuộc địa của Pháp nói chung và xứ Đông Dương nói riêng, rất ít được biết tới trong giới vô sản…Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Pháp đều hiểu biết rất ít về những gì xảy ra tại thuộc địa đó”[12].
Đầu những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh nhấn mạnh trách nhiệm của giai cấp vô sản ở “chính quốc”, đặc biệt trong đo là giai cấp công nhân Pháp, phải kết hợp chặt chẽ với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở thuộc địa, sự kết hợp đó tạo thành một mặt trận thống nhất của giai cấp vô sản toàn thế giới.
Hồ Chí Minh đi tới tận cùng của tư duy về chủ nghĩa thực dân và những biện pháp cách mạng trong thực tế. Nhưng tiếc thay, éo le thay, cuộc sống vốn không đơn giản. Hồ Chí Minh lại bị sa lầy bởi những quan điểm cả hữu khuynh và cả tả khuynh, phần nhiều là tả khuynh, của Quốc tế Cộng sản trên một số vấn đề chủ yếu nhất của cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Mãi đến tháng 9-1924, Quốc tế Cộng sản vẫn cứ trù trừ khi cử Hồ Chí Minh đến hoạt động ở Trung Quốc và trở về Đông Dương. Thậm chí, khi cử rồi thì định không cấp tiền cho Hồ Chí Minh hoạt động, không cử Người với tư cách là cán bộ của Quốc tế Cộng sản mà chỉ với tư cách cá nhân. Sau đó, do can thiệp của đại diện Đảng Cộng sản Pháp, vấn đề trên đây mới được giải quyết ổn thỏa.

* Trong cuộc đời của mình, Hồ Chí Minh mang rất nhiều tên khác nhau. Để tiện theo dõi, trong bài này, xin được quy ước dùng một tên thống nhất:H Chí Minh.
Nguồn: thehehochiminh.net

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tp, T.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, tr. 62.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tp, T.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, tr. 52.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tp, T.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, tr. 194.
[4] Như trên, tr. 195.
[5] Như trên, tr. 197.
[6] Như trên.
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tp, T. 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 273.
[8] Như trên, tr. 273-275.
[9] Như trên, tr. 277.
[10] Hồ Chí Minh: Toàn tp, T. 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 278.
[11] Hồ Chí Minh: Toàn tp, T. 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 281.
[12] Hồ Chí Minh: Biên niên tiu s, T. 1, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1992, tr. 214-215.
Xem thêm…

Hiệp định Sơ bộ Việt - Pháp năm 1946 - giá trị lịch sử và hiện thực

20:18 |
Cách đây 70 năm, vào chiều 06-3-1946, tại Hà Nội, Hiệp định Sơ bộ Việt - Pháp được ký kết trước sự chứng kiến của đại diện Trung Hoa dân quốc, Anh, Mỹ. Đây là một trong những sách lược đúng đắn, sáng tạo, kịp thời của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm bảo vệ nền độc lập, tự chủ của dân tộc trong tình thế đất nước “ngàn cân treo sợi tóc”. Hiệp định Sơ bộ có ý nghĩa giá trị lịch sử và hiện thực sâu sắc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký hiệp định sơ bộ ngày 06-3-1946 với đại diện Pháp Sainteny. Ông Hoàng Minh Giám đọc bản hiệp định. (ảnh tư liệu)
Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, nhưng Nhà nước ấy chưa được thế giới công nhận. Trong khi đó, Hội nghị Pốt-xđam1 đã quyết định đưa quân đội Đồng minh vào Đông Dương để giải giáp quân Nhật. Theo đó, ở phía Bắc (từ vĩ tuyến 16 trở ra) giao cho quân đội Tưởng Giới Thạch và phía Nam (từ vĩ tuyến 16 trở vào) quân đội Anh đảm nhiệm. Tuy nhiên, cùng với đề ra biện pháp giải quyết các vấn đề liên quan tới các nước bại trận, Hội nghị còn tiến hành phân chia khu vực ảnh hưởng giữa các nước lớn. Tại đây, mối quan hệ Đồng minh trong cuộc chiến chống phát xít đã nhanh chóng bị phân hóa, thay vào đó là sự đối địch giữa Liên Xô và các nước đế quốc do Mỹ đứng đầu. Trong đó, các nước đế quốc đã thoả hiệp, nhân như­ợng để thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam.
Thực hiện âm mưu đó, ngày 23-9-1945, núp bóng quân Anh, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, rồi đánh chiếm rộng ra cả Nam Bộ, Nam Trung Bộ và phần lớn Cam-pu-chia; đồng thời khống chế vùng nông thôn rộng lớn ở Lào,... từng bước thực hiện dã tâm xâm lược Đông Dương lần thứ hai. Nền độc lập mà dân tộc ta mới giành lại được phải đương đầu với nhiều kẻ thù, bị uy hiếp từ nhiều phía. Đầu năm 1946, tuy đã chiếm được tỉnh Lai Châu và một phần của tỉnh Sơn La, nhưng còn 20 vạn quân Tưởng chiếm giữ nên Pháp vẫn không thể thôn tính được miền Bắc. Để tránh xung đột, Pháp đã tìm cách thỏa hiệp với Chính phủ Trung Hoa dân quốc bằng Hiệp ước Trùng Khánh (ngày 28-02-1946).
Theo đó, chính quyền Tưởng Giới Thạch đồng ý cho quân Pháp thế chân giải giáp quân Nhật ở Bắc Đông Dương. Đổi lại, Pháp có những nhân nhượng về kinh tế và chính trị cho chính phủ Trùng Khánh. Rõ ràng, việc Pháp và Trung Hoa dân quốc ký kết Hiệp ước Trùng Khánh không chỉ phản ánh bộ mặt thật gian giảo của thực dân, đế quốc, mà còn chà đạp, xúc phạm đối với quyền độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam, đi ngược lại tinh thần của Công ước Liên hiệp quốc đã được hơn 50 quốc gia ký kết trước đó. Với Hiệp ước đó, Pháp đã đạt được mục đích thay thế quân Tưởng một cách hòa bình mà không hề đếm xỉa đến lợi ích của nhân dân Đông Dương. Tuy nhiên, để đặt chân lên miền Bắc nước ta, Pháp vấp phải sự tồn tại của Chính phủ Hồ Chí Minh được quần chúng ủng hộ. Thực tế đó buộc Pháp phải tìm cách thương lượng với chính quyền cách mạng.
Hiệp ước Pháp - Hoa cũng đặt ra cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sự lựa chọn “khắc nghiệt”, hoặc là cầm vũ khí chiến đấu chống thực dân Pháp, không cho chúng đổ bộ lên miền Bắc; hoặc là hòa hoãn, nhân nhượng với chúng để tránh tình trạng cùng một lúc phải đối phó với  nhiều kẻ thù và tranh thủ được thời gian hòa hoãn, tiếp tục củng cố và phát triển lực lượng cách mạng. Ở thời điểm ấy, nếu cầm vũ khí chiến đấu chống lại quân Pháp, chúng ta có nguy cơ phải đối đầu với 20 vạn quân Tưởng còn hiện diện ở miền Bắc cùng bè lũ phản động do chúng dung dưỡng, trong khi thế và lực của ta còn non yếu. Với nhãn quan chính trị sắc sảo và sự nhạy bén trước chuyển biến mau lẹ của tình hình, khi cả hai đối phương đều cần đến phía Việt Nam để tìm một giải pháp có thể chấp nhận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời quyết định ký Hiệp định Sơ bộ ngày 06-3 với những điều kiện có lợi nhất cho Việt Nam, phù hợp với cục diện tình hình và tương quan lực lượng cách mạng. Theo đó, nước Pháp phải công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ, quốc hội, quân đội và tài chính riêng, nằm trong liên bang Đông Dương thuộc khối Liên hiệp Pháp và cam đoan thừa nhận kết quả trưng cầu dân ý về vấn đề thống nhất ba kỳ (Bắc, Trung, Nam). Đổi lại, Việt Nam đồng ý để Pháp đưa 15.000 quân vào miền Bắc (thay thế quân Tưởng) và sẽ rút hết sau 05 năm. Lúc đó, hai bên đình chiến để mở cuộc đàm phán chính thức; trong khi đàm phán, quân đội hai bên giữ nguyên vị trí. Đây là quyết định về sách lược đúng đắn, sáng tạo theo phương châm “hòa để tiến” của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm phân hóa, loại bỏ bớt kẻ thù để tập trung vào đối tượng chủ yếu trong tình thế tương quan lực lượng không có lợi cho ta. Do vậy, Hiệp ước Sơ bộ Việt -  Pháp đã để lại những giá trị lịch sử và hiện thực sâu sắc.
Về mặt lịch sử, Hiệp định Sơ bộ ngày 06-3 là văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Pháp. Theo lôgíc đó, Hiệp định Sơ bộ đã chứng tỏ rằng: Việt Nam là một quốc gia sánh ngang hàng với Pháp, không còn là thuộc địa của Pháp và càng không cần đến sự bảo hộ của Pháp. Nhận xét về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Sự ký kết đó có một kết quả hay là nước Pháp đã thừa nhận nước Việt Nam là một nước tự chủ”2. Đồng thời, nó còn “mở đường cho sự công nhận của quốc tế... dẫn chúng ta đến một vị trí quốc tế ngày càng vững vàng và đó là một thắng lợi chính trị lớn lao”3. Dù chỉ là sự kiện trong khuôn khổ Việt - Pháp, nhưng đã khiến cộng đồng quốc tế hết sức quan tâm và hoan nghênh. Trả lời phỏng vấn hãng tin AFP tại Trùng Khánh, Chu Ân Lai, đại diện của Đảng Cộng sản Trung Quốc nói rằng: “Đó là một việc làm khuôn mẫu cho các đế quốc ở Thái Bình Dương và châu Á”. Pandi Neru, lãnh tụ Đảng Quốc Đại (sau này là Thủ tướng Ấn Độ) bày tỏ quan điểm đồng tình; còn Van Mook, Toàn quyền Hà Lan tại In-đô-nê-xi-a đã cử người đến Hà Nội để tìm hiểu kinh nghiệm4. Như vậy, Hiệp định Sơ bộ đã tạo cơ sở pháp lý để nâng tầm vị thế Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên trường quốc tế.
Cùng với đó, việc chủ động ký Hiệp ước Sơ bộ đã tỏ rõ tầm nhìn, tư duy chiến lược sắc bén của Đảng ta về vận dụng điều kiện thực tiễn khách quan để chuyển hóa tình thế cách mạng. Trước mắt, với bản Hiệp định này, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ chỗ bị gạt ra ngoài thỏa thuận Pháp - Hoa, trở thành một bên chủ thể quyết định đến việc thực hiện các điều khoản thay quân trong Hiệp ước Trùng Khánh, để kết thúc về mặt pháp lý vai trò của quân Tưởng tại Việt Nam, theo quy định của Hội nghị Pốt-xđam. Đây là quyết định “nhất cử lưỡng tiện”, vừa tránh phải đối đầu với Pháp trong điều kiện bất lợi cả về thế và lực, vừa mượn tay Pháp đuổi 20 vạn quân Tưởng ra khỏi bờ cõi. Đó là đòn tiến công ngoại giao hết sức chủ động, sáng tạo, nhằm phân hóa kẻ thù, thúc đẩy chúng tự loại trừ lẫn nhau, tạo thuận lợi để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Nhân nhượng để cho 15.000 quân Pháp kéo ra miền Bắc là sự chia lửa với đồng bào miền Nam, tận dụng thời gian hòa hoãn để tập trung sức lực chuẩn bị thế trận cho cả nước bước vào kháng chiến với tinh thần: “Điều cốt tử là trong khi mở cuộc đàm phán với Pháp không những không ngừng một phút công việc sửa soạn, sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào và ở đâu, mà hết sức xúc tiến việc sửa soạn ấy và nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp làm nhụt tinh thần quyết chiến của dân tộc ta”5. Tận dụng thời cơ đó, chúng ta đã có thời gian để xây dựng bộ máy chính quyền từ xã đến huyện, tỉnh trong toàn quốc, xây dựng nền kinh tế - tài chính độc lập, đặc biệt là việc xây dựng Quân đội quốc gia, nâng tổng quân số lên khoảng 80.000 người và gần 01 triệu du kích, tự vệ vào giữa năm 1946 để vững bước tiến vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống quân xâm lược Pháp.
Như vậy, mềm dẻo trong sách lược, cứng rắn trên nguyên tắc, Hiệp định Sơ bộ là bước đi cần thiết, hy sinh không gian để đổi lấy thời gian, biến thời gian thành lực lượng vật chất, củng cố thực lực một cách toàn diện để đối phó với kẻ thù chính là thực dân Pháp khi chúng không có lực lượng Đồng minh tại chỗ hỗ trợ. Đánh giá về sự kiện trên, đồng chí Lê Duẩn viết: “Tạm thời hòa hoãn với Pháp để đuổi cổ quân Tưởng và quét sạch bọn phản động tay sai của Tưởng, dành thời gian củng cố lực lượng, chuẩn bị toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, điều mà Đảng ta biết chắc là không thể nào tránh khỏi. Những biện pháp cực kỳ sáng suốt đó đã được ghi vào lịch sử cách mạng nước ta như một mẫu mực tuyệt vời của sách lược Lênin-nít về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ địch về sự nhân nhượng có nguyên tắc”6.
Cùng với những giá trị về lịch sử, Hiệp định sơ bộ cũng để lại những giá trị hiện thực sâu sắc. Đó chính là quan điểm giữ vững nguyên tắc chiến lược, linh hoạt về sách lược trong đấu tranh, đã và đang được Đảng ta vận dụng có hiệu quả trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt hiện nay, với chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, Đảng ta xác định rõ nguyên tắc chiến lược mang tính bao trùm là giữ vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong một thế giới đang biến đổi sâu sắc, đặt ra nhiều vấn đề cấp bách, phức tạp, Đảng đã chủ động điều chỉnh sách lược cho phù hợp với mục tiêu và yêu cầu hội nhập; nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế, tận dụng thời cơ, thúc đẩy hợp tác kết hợp với đấu tranh một cách hài hòa, linh hoạt để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; đồng thời, tránh đối đầu và rơi vào thế cô lập. Giữ vững độc lập, tự chủ, thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại. Chú trọng hợp tác khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước, nhất là với các nước láng giềng, các nước lớn và các nước trong khu vực; chủ động tham gia các tổ chức đa phương trong khu vực và toàn cầu,... góp phần nâng tầm vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Mỗi bước mở rộng, đưa quan hệ hợp tác với các nước vào chiều sâu đều nhằm củng cố, tăng cường thực lực trong nước; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia. Đó cũng chính là sự vận dụng sâu sắc bài học kinh nghiệm từ ký kết Hiệp định Sơ bộ của 70 năm về trước.
Đại tá, TS. NGUYỄN VĂN BẠO, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Nguồn: Tapchiqptd.vn
___________________________
1 - Hội nghị của các nước Đồng minh thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ 2 (họp từ ngày 16-7 đến 02-8-1945 tại Pốt-xđam, Đức).
2 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 228.
3 - Philippe Devillers - Tài liệu lưu trữ chiến tranh 1944-1947, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1993, tr. 218.
4 - Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000, Nxb CTQG, H. 2005, tr. 72.
5 - ĐCSVN - Văn kiện Đảng Toàn tậpTập 8, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 46.
6 - Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb Sự thật, H. 1979, tr. 31.
Xem thêm…

Josephine Stenson: Hồ Chí Minh, một nhân cách lớn của thời đại

10:06 |

Bà Josephine Stenson là giáo sư tiến sĩ sử học của trường đại học Florida Atlantic ở tiểu bang Florida, Hoa Kỳ. Đây là bài phát biểu của bà tại Hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội tháng 5 năm 1990. Bài tham luận tiếng Anh, nhan đề "Hồ Chí Minh, một nhân cách lớn của thời đại" đã được ghi lại và sau đó do Bảo tàng Hồ Chí Minh xuất bản. Một bài tham luận rất lí thú, với một góc nhìn từ người nước ngòai, một phụ nữ, một trí thức Hoa Kỳ đã cung cấp cho chúng ta những thông tin có nhiều điểm mới mẻ, đặc biệt, cho thấy một cái nhìn khác, một quan điểm thông thóang và táo bạo, nhưng vẫn tế nhị về chuyện đời tư nhạy cảm, đối với phụ nữ, tình yêu của Bác Hồ. Dưới đây là toàn văn bài tham luận

--------------------------------------------------------

Hôm nay tôi mặc tà áo này không phải để chưng món quà sang trọng của bạn bè Việt Nam tặng cho tôi. Đây là sự ngưỡng mộ một sắc phục dân tộc mà chưa có một sắc phục phụ nữ nào lại đẹp, có văn hoá, bề dày truyền thống và thanh lịch như chiếc áo dài Việt Nam.

Từ Hoa Kỳ, tôi sang Thái Lan và vào Thành phố Hồ Chí Minh, thấy ngỡ ngàng khi nhìn thấy nữ sinh các trường đều mặc áo dài - những chiếc áo dài tuyệt đẹp. Tôi như bị thôi miên cứ đứng nhìn ngây ngất những tà áo dài mềm mại trên thân hình rất đẹp của các nữ sinh.

Trong khi đó, một cảm giác buồn tương phản đột nhiên xâm chiếm trong tôi một cách bất ngờ khi tôi nhìn thấy nhiều chị em khác cũng tại thành phố này mặc những bộ đồ mà những người phụ nữ Mỹ chúng tôi đã bỏ từ thập kỷ 60 sang thập kỷ 70. Khi ra Hà Nội tôi hiểu được bề dày về nền văn minh Sông Hồng, nhưng không giống như Thành phố Hồ Chí Minh, phụ nữ ít mặc áo dài, phần lớn họ mặc quần áo giống như phụ nữ Bangkok và Philippines.

Ngoài ra Việt Nam còn tuyên truyền rằng ông Hồ làm phu khuân vác ở Bến Nhà Rồng, bồi bàn dưới tàu Pháp, bồi bếp ở khách sạn Luân Đôn và làm thợ nhiếp ảnh... chỉ toàn là những lao động cơ bắp, không thấy trí tuệ Hồ Chí Minh ở chỗ nào cả! Có lẽ những nhà lãnh đạo Việt Nam lo ngại khi nói đến trí tuệ của ông Hồ Chí Minh thì ảnh hưởng đến đường lối giai cấp của Đảng Cộng sản chăng, vì sợ quần chúng hiểu rằng Bác Hồ là thành phần thuộc tầng lớp trên chứ thực chất không phải là bần cố nông và thợ thuyền, giai cấp lãnh đạo cách mạng?

Thế nhưng người ta hiểu sai rằng Bác Hồ làm đủ mọi nghề chỉ là để kiếm sống, không đúng!

Người ta đồn rằng cụ Hồ biết 28 thứ tiếng, nhưng theo kết quả tìm hiểu của tôi thì cụ biết khá sành sỏi 12 thứ tiếng.

Duy nhất chỉ có Nguyễn Tất Thành nhìn xuống chân tượng thần Tự Do và ghi lại những ý kiến trên. Nguyễn Tất Thành nhìn số phận con người, không chiêm ngưỡng hào quang tỏa sáng từ bức tượng thần Tự Do. Chính vì thế mà hôm nay tôi đến đây tìm đến con người này - Hồ Chí Minh - để xem giữa lời nói và việc làm của ông có tương phản không?

Tôi đọc nhiều tư liệu về ông và biết ông được nhiều phụ nữ yêu thương. Bà Lared theo đuổi Nguyễn Ái Quốc nhiều năm. Trong những đêm đi họp chi bộ về hai người đi bên nhau trên bờ sông Seine, bà tỏ tình mà Nguyễn Ái Quốc không mềm lòng. Khi bà qua đời, để lại cuốn nhật ký, tôi được đọc quyển nhật ký đó và hiện giờ con gái bà đang giữ. Con bà cũng nói với tôi: “Mẹ tôi yêu Nguyễn Ái Quốc”. Đấy, tôi phải đi tìm cho được những bằng chứng như vậy mới đủ cơ sở khẳng định nhân cách một con người của thời đại. Đúng, Hồ Chí Minh là nhân cách của thời đại.

Hồ Chí Minh trả lời một cách chân tình và thân mật: Khi còn trẻ phải đi hoạt động cách mạng, khi giành được độc lập thì đã già, nên không dám tính chuyện đó. Trước khi tôi ra đi, tôi có yêu một người con gái, người con gái đó cũng rất yêu tôi. Nhưng phải dừng lại về chuyện yêu đương, sau nhiều năm mất liên lạc, tôi không biết người con gái đó đang ở đâu, còn hay mất.

Xin cho phép tôi được mặc chiếc áo dài của người mẹ Việt Nam, người mẹ đã sinh ra những anh hùng của nhiều thời đại chống ngoại xâm để bảo vệ Tổ quốc thân yêu của mình. Và thời nay, có một người mẹ đã sinh ra thiên tài Hồ Chí Minh. Bà cũng đã mặc tà áo này.
Hồ Chí Minh là người mà tôi dành nhiều thời gian nhất trong đời nghiên cứu lịch sử của tôi để tìm hiểu cho được đích thực tính cách của ông. Tôi thuộc thế hệ tuổi con cháu Bác Hồ Chí Minh. Cho phép tôi được ca ngợi lời ca muộn màng của người hậu thế. Không phải tôi ca ngợi Hồ Chí Minh vì Việt Nam đã chiến thắng quốc gia hùng mạnh nhất hành tinh.
Tôi đã tự bỏ tiền túi ra để đi từ Mỹ sang Pháp và Liên Xô cũ: Những nơi mà Hồ Chí Minh đã đặt chân tới đó, để tìm những di tích gốc về Hồ Chí Minh. Tôi đã ở Liên Xô một thời gian tương đối lâu để nghiên cứu về ông. Khi về Mỹ, tôi lại đi từ New York đến các đảo lửa vùng Đông Bắc châu Mỹ, nơi cụ Hồ đã đi tàu xuyên đại dương đến đó. Tôi quyết tâm đi tìm cho được lai lịch văn hóa Hồ Chí Minh, mặc dù ngày đó người ta đã thừa nhận cụ là danh nhân văn hoá của thế kỷ.
Rất tiếc, lâu nay Việt Nam chỉ cung cấp cho chúng tôi lai lịch chính trị của Hồ Chí Minh, ngoài ra không cung cấp những tư liệu gì đối với những vấn đề khác. Và tôi cũng hết sức ngạc nhiên và khó hiểu không biết tại sao Việt Nam cứ tuyên truyền rằng cụ Hồ sinh ra trong một gia đình nghèo khổ? Đã nghèo thì làm sao có điều kiện ăn học và làm quan như cụ thân sinh ra ông và trình độ học vấn như ông.
Xin lưu ý, bất cứ một quốc gia nào coi rẻ và khinh miệt trí thức thì nhất định sẽ thất bại, lịch sử đã từng chứng minh thực tế đó.
Qua nghiên cứu tôi thấy rằng:
- Bác Hồ chọn việc bồi bàn trên tàu là để có điều kiện đi đến được nhiều quốc gia.
- Bác Hồ chọn việc làm ở khách sạn là nơi có điều kiện tiếp xúc được với nhiều chính khách.
Tôi đã đến London tìm hiểu và thấy Nguyễn Ái Quốc kết thân với một số nhà đại văn hào, các nghệ sĩ danh tiếng như Romans, Darwin, vua hề Charlie (Sạc-lô)...
Tôi xin dâng tặng những lời ca đẹp nhất về Hồ Chí Minh, sau khi tôi đã đi đến những nơi có dấu chân ông đi qua, gặp lại những người đã biết về ông và đi đến kết luận rằng Hồ Chí Minh lúc còn trẻ là một thanh niên ... rất đẹp trai, cho nên hiện giờ tôi vẫn cứ mơ ước về ông. Nếu tôi cùng thời với ông thì dứt khoát phải trở thành người yêu của ông. Ông không chấp nhận, tôi cũng đeo đuổi đến cùng... Tôi ngưỡng mộ ông bằng cả đầu óc khoa học của tôi, đồng thời bằng cả trái tim của một người con gái hậu thế.
Khi tôi đã yêu ông và tôn kính ông ở góc độ khoa học thì tôi nghĩ ngay đến tượng Nữ thần Tự Do ở quê hương tôi. Tôi là nhà sử học, tôi đã lật ra xem những trang ghi cảm tưởng của mọi chính khách khi họ đến tham quan và chiêm ngưỡng tượng thần Tự Do và ca ngợi thần Tự Do.
Nguyễn Tất Thành khi đến New York và cũng đã đến chiêm ngưỡng tượng thần Tự Do như mọi chính khách sau khi đến tham quan thần Tự Do đều ghi cảm tưởng bằng những lời ca ngợi Ngôi sao tỏa sáng trên vòng Nguyệt quế là ánh sáng tự do... Duy chỉ có Nguyễn Tất Thành đến xem thần Tự Do, nhưng chỉ nhìn dưới chân tượng và ghi: “Ánh sáng trên đầu thần Tự Do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân tượng thần Tự Do thì người da đen đang bị chà đạp; số phận người phụ nữ bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?
Hồ Chí Minh quả thật là con người nói và làm đi đôi. Tôi đã vào nhà của ông. Lục tìm của riêng của ông. Ông không có của riêng. Thật rất lạ và hiếm thấy, chính khách nào khi cầm quyền đều ban hành sắc lệnh tôn trọng và bình đẳng cho phụ nữ nhưng khi sắc lệnh ký xong thì bản thân họ lại vào nhà thổ, cho phép phát triển kỹ nghệ “đàn bà”. Thậm chí một vị Tổng thống có đến 3 - 4 tình nhân. Duy nhất chỉ có Nguyễn Tất Thành đứng trước Tượng thần Tự Do ghi những điều trên khi mình còn lầm than, rồi khi mình làm Chủ tịch một nước và khi qua đời, trên giường ông vẫn vắng hơi ấm của đàn bà. Con người khi làm Chủ tịch nước 24 năm đến lúc qua đời trên giường không có hơi ấm của đàn bà.
Hồ Chí Minh là một người cộng sản vĩ đại, là một siêu nhân, ông càng vĩ đại hơn ở chỗ ông là một con người bình thường sống hòa lẫn vào trong cuộc sống của xã hội chứ không phải siêu phàm.
Tôi cũng đến khách sạn Boston, ở Đông Bắc nước Mỹ, nơi Nguyễn Tất Thành ở đó làm thợ nặn bánh mì gần một năm trời và sau này chính các nhà đại văn hào châu Âu qua Mỹ đều ở Khách sạn này. Nguyễn Tất Thành đã ghi lại tên tất cả những chính khách đến ở trong khách sạn Boston.
Tại đây có một cô gái quốc tịch Mỹ gốc Pháp tên Côlét đã yêu say đắm Nguyễn Tất Thành. Nguyễn Tất Thành rất thích nghe hát và xem kịch, nhất là kịch cổ điển. Được biết Hồ Chí Minh rất yêu nghệ thuật và tâm hồn nghệ thuật rất phong phú, nhưng Nguyễn Tất Thành rời nước ra đi không phải để hoạt động chính khách mà ông đi tìm đường cứu dân tộc. Côlét khuyên dụ ông đi với bà và tỏ ý muốn kết hôn với Nguyễn Tất Thành, nhưng ông đã tìm cách an ủi Côlét để từ chối. Sau đó một thời gian, Côlét trở thành một nhà văn lớn có tên tuổi. Nguyễn Tất Thành tâm sự và bà Côlét kể lại: “Nếu tôi muốn có một văn bằng thì tôi đã thi năm 1904 ở trong nước, vì lúc đó tôi có một người con gái quê nhà yêu mà đành bỏ lại trên bến Cảng để ra đi”.
Vừa rồi, tôi có đọc một bài hồi ký đăng trên Tạp chí Lịch sử quân sự của Viện quân sự Hoa Kỳ, do một số sĩ quan Anh - Mỹ trong đội quân của Đồng minh khi sang Đông Dương đóng ở Cao Bằng, “Tôi sống cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những ngày đầu khởi nghĩa”. Họ kể lại, có dịp tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, họ hỏi:
- Không phải tò mò mà trên danh nghĩa là đàn ông với nhau, tại sao Chủ tịch không lấy vợ, không lập gia đình?
Tôi đã đi Quảng Châu và tôi biết Nguyễn Ái Quốc còn có một người yêu nữa tên Lý Phương Liên (bí danh) thư ký của Đông Phương bộ thuộc cục Phương Nam là vợ của Lý Thụy (cụ Hồ) ở phố Văn Minh, Quảng Châu, Trung Quốc. Thực tiễn cuộc sống có những việc nhìn thấy tận mắt chưa hẳn là thật. Khi ông Phạm Văn Đồng cùng một số người trong tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội sang dự một khóa học chính trị tại nhà số 13 phố Văn Minh cũng tưởng Lý Phương Liên là "vợ" của Lý Thụy, nhưng sau mới biết thực tế không phải như vậy, đây chỉ là việc ngụy trang để che mắt mật thám.
Tôi không coi vấn đề này quan trọng, tuy vậy thời gian tôi đến Liên Xô, tôi cũng biết có một cô gái Nga yêu ông, yêu tới mức bà ta không lấy được Nguyễn Ái Quốc và suốt đời ở vậy cho đến già rồi chết. Có một nhân chứng người Nga được bà ta tâm sự kể lại với tôi rằng: “Hai người yêu nhau, nhưng không dám lấy. Nguyễn Ái Quốc nói lấy vợ thì phải để lại địa chỉ, phải có con, phải có trách nhiệm làm chồng, làm cha và rồi thế nào mật thám cũng phát hiện ra, cho nên Nguyễn Ái Quốc không lấy vợ và tôi cũng không lấy chồng."
Dân tộc Việt Nam mãi mãi nên tự hào về Hồ Chí Minh, nền văn minh nhân loại của thế kỷ XX này luôn tự hào có một vĩ nhân được cả thế giới, đại diện bởi UNESCO, phong tặng Anh hùng giải phóng dân tộc và Danh nhân văn hóa kiệt xuất. Hồ Chí Minh mãi mãi là tấm gương sáng về nhân cách một người thời đại cho mọi thế hệ tiếp sau.
Josephine Stenson - Hà Nội, tháng 5 năm 1990
Nguồn: Internet.
Xem thêm…


Thế hệ Hồ Chí Minh | Ban Quản lý Lăng Bác | Bảo tàng Hồ Chí Minh | Học viện Chính trị Quốc gia |